06 điểm mới trong cơ chế đầu tư, mua sắm và thuê dịch vụ phục vụ chuyển đổi số

<p style="text-align: justify;">Tại Hội nghị "Thể chế khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Tháo gỡ điểm nghẽn và kiến tạo phát triển", ông Lê Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia đã trình bày những điểm mới trong cơ chế quản lý đầu tư, mua sắm và thuê dịch vụ sử dụng ngân sách nhà nước phục vụ chuyển đổi số. </p>

06 điểm mới trong cơ chế đầu tư, mua sắm và thuê dịch vụ phục vụ chuyển đổi số- Ảnh 1.

Ông Lê Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia trình bày tham luận tại Hội nghị "Thể chế khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Tháo gỡ điểm nghẽn và kiến tạo phát triển".

Ông Lê Anh Tuấn cho biết, từ ngày 01/7/2026, cùng với Luật Chuyển đổi số có hiệu lực, hệ thống văn bản hướng dẫn gồm Nghị định số 224/2026/NĐ-CР của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số (Nghị định số 224) và các Thông tư số 39/2026/TT-BKHCN, 41/2026/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ đã tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt động đầu tư, mua sắm và thuê dịch vụ phục vụ chuyển đổi số sử dụng ngân sách nhà nước.

Cơ chế mới có 6 điểm đổi mới nổi bật:

Thứ nhất, chuyển đổi số được xác định nằm trong một lĩnh vực chi ngân sách riêng, đó là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. 

Trước đây, các khoản chi cho chuyển đổi số được lồng ghép trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Nay, Luật Chuyển đổi số và Luật Ngân sách nhà nước đã quy định chuyển đổi số là một lĩnh vực chi độc lập, với mức bố trí tối thiểu 1% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm. Nghị định số 224 cũng quy định cụ thể các nhiệm vụ và nội dung chi, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc phân bổ và sử dụng nguồn lực.

Thứ hai, bổ sung cơ chế hỗ trợ kinh phí thử nghiệm cho doanh nghiệp. 

Theo quy định trước đây, doanh nghiệp phải tự chi trả toàn bộ chi phí thử nghiệm. Quy định mới cho phép Nhà nước hỗ trợ tối đa 30% kinh phí thử nghiệm, nhưng không quá 15 tỷ đồng, góp phần khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn nghiên cứu và phát triển các giải pháp số mới.

Thứ ba, áp dụng cơ chế đặc thù đối với nền tảng số quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia. 

Đây là những dự án quy mô lớn, đòi hỏi triển khai nhanh, đồng bộ và thống nhất trên phạm vi cả nước. Vì vậy, Nghị định số 224 cho phép đặt hàng một doanh nghiệp thực hiện toàn bộ quy trình từ nghiên cứu, lập dự án, thiết kế đến triển khai, qua đó bảo đảm tiến độ cũng như tính đồng bộ của hệ thống.

Thứ tư, cho phép một doanh nghiệp vừa thiết kế vừa triển khai đối với phần mềm nội bộ. 

Phát triển phần mềm là quá trình liên tục điều chỉnh theo nhu cầu thực tế của người sử dụng. Trong khi đó, quy định trước đây yêu cầu tách riêng đơn vị thiết kế và đơn vị triển khai, khiến quá trình thực hiện thiếu linh hoạt. Quy định mới cho phép một doanh nghiệp đảm nhận cả hai công đoạn, giúp rút ngắn thời gian triển khai và nâng cao hiệu quả thực hiện dự án.

Thứ năm, tháo gỡ vướng mắc trong xác định giá dự toán. 

Theo quy định mới, nếu chủ đầu tư đã thực hiện đầy đủ việc lấy báo giá theo nguyên tắc công khai, minh bạch thì sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với việc doanh nghiệp kê khai giá không đúng thực tế hoặc nâng khống giá. Quy định này góp phần giảm áp lực trách nhiệm cho chủ đầu tư, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án.

Thứ sáu, cho phép doanh nghiệp phát triển nền tảng số, hệ thống thông tin, phần mềm được tiếp tục quản trị, vận hành, bảo trì hệ thống, phần mềm đó.

Trước đây, đơn vị phát triển và đơn vị quản trị, bảo trì thường tách biệt, dẫn đến nhiều khó khăn khi xử lý sự cố hoặc nâng cấp hệ thống do đơn vị bảo trì không nắm rõ kiến trúc và mã nguồn phần mềm. 

Quy định mới cho phép chỉ định doanh nghiệp đã phát triển hệ thống, phần mềm thì tiếp tục thực hiện quản trị, vận hành, bảo trì hệ thống, phần mềm đó; qua đó bảo đảm tính liên tục, ổn định và nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống.

Theo ông Lê Anh Tuấn, những quy định mới của Nghị định số 224 được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn triển khai các dự án chuyển đổi số trong thời gian qua, hướng tới tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế đầu tư, mua sắm và thuê dịch vụ sử dụng ngân sách nhà nước. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để đẩy nhanh việc triển khai các nền tảng số, cơ sở dữ liệu quốc gia và các dự án chuyển đổi số trong thời gian tới, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của chuyển đổi số quốc gia.