An Giang đặt hàng giải pháp sinh học xử lý phụ phẩm và môi trường
<p style="text-align: justify;">Chuyển hóa phụ phẩm thủy sản thành vật liệu sinh học định hướng ứng dụng y sinh; kết hợp vi sinh vật xử lý nước thải sinh hoạt; tái chế vỏ trứng cùng nấm đối kháng Trichoderma, Bacillus để xử lý tàn dư thuốc trừ sâu và cải tạo đất là những hướng nghiên cứu được An Giang đặt hàng trong năm 2026. Các nhiệm vụ cho thấy xu hướng đưa công nghệ sinh học vào giải quyết đồng thời bài toán phụ phẩm, chất thải và môi trường.</p>
Ngày 25/3/2026, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh An Giang thông báo tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở năm 2026. Trong danh mục đưa ra tuyển chọn, nhiều nhiệm vụ tập trung vào công nghệ sinh học, vi sinh vật và tận dụng phụ phẩm để tạo sản phẩm mới hoặc xử lý những vấn đề môi trường phát sinh trong thực tiễn.
Đáng chú ý là nhiệm vụ "Nghiên cứu chuyển hóa phụ phẩm thủy sản thành vi cầu hydroxyapatite sinh học phủ chitosan/collagen định hướng ứng dụng y sinh trong dẫn truyền curcumin".
Hướng nghiên cứu đặt ra khả năng khai thác nguồn phụ phẩm từ ngành thủy sản để tạo vật liệu sinh học có giá trị gia tăng cao hơn, thay vì chỉ xem đây là nguồn chất thải cần xử lý.
Hydroxyapatite là vật liệu có thành phần hóa học tương đồng với pha khoáng trong xương và răng, được nghiên cứu rộng rãi trong lĩnh vực vật liệu y sinh. Với nhiệm vụ tại An Giang, vật liệu được định hướng tạo thành dạng vi cầu, phủ chitosan/collagen và nghiên cứu khả năng dẫn truyền curcumin.
Điểm đáng chú ý ở hướng tiếp cận này là sự kết nối giữa xử lý phụ phẩm thủy sản - vật liệu sinh học - ứng dụng y sinh. Nếu đạt được các yêu cầu nghiên cứu đặt ra, phụ phẩm có thể trở thành nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ cao hơn.
Kết hợp vi sinh vật xử lý nước thải
Một nhiệm vụ khác tập trung vào tuyển chọn chất trợ keo từ thực vật bản địa và ứng dụng tổ hợp vi sinh vật phân giải hữu cơ, hướng tới xây dựng quy trình xử lý nước thải sinh hoạt phục vụ tưới tiêu tại xã Tiên Hải.
Thay vì chỉ tiếp cận nước thải như một nguồn cần loại bỏ, nhiệm vụ hướng đến xử lý để tạo khả năng tái sử dụng cho tưới tiêu. Trong đó, vi sinh vật phân giải chất hữu cơ là một thành phần của giải pháp công nghệ được nghiên cứu.

Phụ phẩm thủy sản được định hướng thành vật liệu y sinh; vi sinh vật được nghiên cứu phục vụ xử lý nước thải; vỏ trứng kết hợp Trichoderma, Bacillus hướng tới xử lý tàn dư thuốc trừ sâu và cải tạo đất.
Hướng nghiên cứu này gắn công nghệ sinh học với yêu cầu sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước và xử lý ô nhiễm tại địa bàn. Việc kết hợp nguồn vật liệu thực vật bản địa với hệ vi sinh vật cũng mở ra khả năng phát triển giải pháp phù hợp hơn với điều kiện thực tế của địa phương.
Tái chế vỏ trứng kết hợp Trichoderma, Bacillus cải tạo đất
Danh mục nhiệm vụ năm 2026 của An Giang còn đặt ra hướng tái chế vỏ trứng kết hợp nấm đối kháng Trichoderma và Bacillus làm vật liệu hấp phụ xử lý tàn dư thuốc trừ sâu và cải tạo đất trồng.
Ở nhiệm vụ này, một loại phụ phẩm khác là vỏ trứng được lựa chọn làm nguồn nguyên liệu. Việc kết hợp với Trichoderma và Bacillus đưa yếu tố vi sinh vào giải pháp xử lý đất, hướng tới đồng thời hai mục tiêu: xử lý tàn dư thuốc bảo vệ thực vật và cải thiện môi trường đất canh tác.
Trichoderma là nhóm nấm có ích được sử dụng khá phổ biến trong nông nghiệp, trong khi nhiều chủng Bacillus có khả năng tạo các hợp chất sinh học và tham gia vào quá trình chuyển hóa trong đất. Việc nghiên cứu kết hợp các vi sinh vật này với vật liệu tái chế từ vỏ trứng tạo thêm hướng khai thác phụ phẩm theo mô hình tuần hoàn.
Ba nhiệm vụ tuy khác nhau về đối tượng nhưng có điểm chung là tận dụng nguồn vật liệu sẵn có, kết hợp giải pháp sinh học và vi sinh để tạo giá trị mới hoặc giải quyết vấn đề môi trường. Phụ phẩm thủy sản được định hướng thành vật liệu y sinh; vi sinh vật được nghiên cứu phục vụ xử lý nước thải; vỏ trứng kết hợp Trichoderma, Bacillus hướng tới xử lý tàn dư thuốc trừ sâu và cải tạo đất.
Việc đặt hàng các bài toán cụ thể như vậy tạo điều kiện để hoạt động khoa học và công nghệ bám sát nhu cầu thực tiễn, đồng thời mở rộng không gian ứng dụng công nghệ sinh học từ nông nghiệp, môi trường đến vật liệu y sinh. Qua đó, nguồn phụ phẩm và chất thải có thể từng bước được nhìn nhận như nguồn nguyên liệu cho những chu trình sản xuất, xử lý và tạo sản phẩm mới có giá trị cao hơn.