Bảo vệ môi trường, hướng tới chăn nuôi bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

<p style="text-align: justify;">Phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững không chỉ đặt ra yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng đàn vật nuôi mà còn phải gắn với xử lý hiệu quả chất thải, bảo vệ môi trường và bảo đảm an toàn sinh học. </p>

Tại Sơn La, nhiều hộ dân, hợp tác xã đã chủ động áp dụng các giải pháp xử lý chất thải, tận dụng phụ phẩm chăn nuôi làm phân bón, qua đó giảm ô nhiễm, tiết kiệm chi phí và từng bước hình thành mô hình chăn nuôi tuần hoàn. Đây cũng là hướng đi phù hợp với mục tiêu phát triển sinh kế bền vững, nâng cao đời sống người dân tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Sơn La hiện duy trì hơn 1,4 triệu con gia súc và trên 8 triệu con gia cầm. Với quy mô đàn vật nuôi lớn, mỗi ngày toàn tỉnh phát sinh khoảng 5.400 m³ nước thải và gần 8.800 tấn chất thải rắn. Nếu không được thu gom, xử lý đúng quy định, lượng chất thải này có thể trở thành nguồn gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng sản xuất nông nghiệp.

Trước yêu cầu đó, nhiều cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh đã quan tâm đầu tư các công trình, thiết bị xử lý chất thải như hầm biogas, hầm khí sinh học phủ bạt HDPE, máy ép phân, hệ thống sục khí, khu khử trùng... Toàn tỉnh hiện có 1.573 cơ sở chăn nuôi quy mô lớn, vừa và nhỏ; trong đó có 266 trang trại và hơn 3.000 hộ sử dụng công trình biogas.

Khoảng 50% lượng chất thải chăn nuôi được xử lý bằng các giải pháp như đệm lót sinh học, hệ thống ép phân, ủ bằng chế phẩm vi sinh. Tuy nhiên, khoảng 40% lượng chất thải vẫn được xả trực tiếp ra môi trường, chủ yếu từ các hộ chăn nuôi trâu, bò. Thực tế này cho thấy việc thay đổi tập quán sản xuất, nâng cao nhận thức và nhân rộng các giải pháp xử lý chất thải phù hợp với điều kiện từng hộ dân vẫn là yêu cầu cấp thiết.

Biến chất thải thành nguồn tài nguyên

Tại HTX Dịch vụ tổng hợp và sản xuất nông nghiệp Lúa Vàng, Chi nhánh Sơn La, xã Mai Sơn, gần 200 con bò được nuôi trên nền đệm lót sinh học. Đây là giải pháp được lựa chọn nhằm giảm công lao động vệ sinh chuồng trại, hạn chế mùi hôi và giảm lượng nước thải phát sinh.

Hệ vi sinh vật trong lớp đệm giúp phân hủy chất thải ngay tại chuồng, giữ nền chuồng khô ráo, hạn chế mùi hôi. Sau một thời gian sử dụng, lớp đệm được thu gom, ủ thành phân bón hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Không chỉ tại các trang trại, nhiều hộ chăn nuôi quy mô nhỏ cũng đang từng bước thay đổi cách xử lý chất thải theo hướng an toàn, thân thiện với môi trường.

Gia đình ông Lò Văn Thành, bản Cơi Quỳnh, xã Chiềng Mai, hiện nuôi 5 con bò 3B. Hằng ngày, sau khi đưa bò về chuồng, gia đình thu gom chất thải, vệ sinh chuồng trại và thực hiện ủ phân trước khi sử dụng cho cây trồng.

Bảo vệ môi trường, hướng tới chăn nuôi bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi - Ảnh 1.

Hướng dẫn hộ chăn nuôi xã Chiềng Mai thực hiện các biện pháp xử lý chất thải, bảo vệ môi trường.

Ông Thành chia sẻ, trước đây nhiều hộ có thói quen sử dụng phân tươi để bón trực tiếp cho cây. Hiện nay, gia đình ông thực hiện ủ phân trước khi sử dụng, vừa góp phần bảo đảm vệ sinh môi trường, vừa giúp tận dụng nguồn dinh dưỡng trong chất thải chăn nuôi. Nguồn phân hữu cơ cũng giúp gia đình giảm một phần chi phí mua phân bón.

Tại xã Thuận Châu, người dân sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý chất thải ngay tại chuồng nuôi lợn. Việc áp dụng chế phẩm sinh học góp phần phân hủy chất thải, giảm mùi hôi, cải thiện điều kiện vệ sinh chuồng trại và hạn chế nguy cơ phát sinh ô nhiễm trong khu dân cư.

Từ những mô hình trên cho thấy, chất thải chăn nuôi nếu được thu gom và xử lý đúng cách không nhất thiết chỉ là yếu tố gây ô nhiễm mà còn có thể trở thành nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất. Phân chuồng, chất độn sau xử lý có thể được tận dụng làm phân hữu cơ; chất thải được xử lý qua hệ thống biogas có thể tạo khí phục vụ sinh hoạt, sản xuất. Đây là những yếu tố quan trọng để hình thành chu trình sản xuất khép kín, giảm chi phí đầu vào và nâng cao giá trị kinh tế của hoạt động chăn nuôi.

Việc nâng cao hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi càng có ý nghĩa tại khu vực miền núi, nơi chăn nuôi vẫn là một trong những sinh kế quan trọng của người dân. Nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế dựa vào chăn nuôi gia súc, gia cầm với quy mô hộ gia đình. Vì vậy, việc hỗ trợ người dân chuyển đổi phương thức sản xuất, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và nâng cao giá trị sản phẩm cần được thực hiện đồng thời với yêu cầu bảo vệ môi trường.

Nội dung này có sự gắn kết với định hướng của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ năm 2021 đến năm 2025, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021. Chương trình hướng tới mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân và tạo sinh kế phù hợp tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Trong các nội dung của Chương trình, phát triển sản xuất, hỗ trợ sinh kế và các mô hình chăn nuôi phù hợp được xác định là một trong những hướng hỗ trợ nhằm tạo điều kiện để người dân phát triển kinh tế. Một số văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình cũng quy định nội dung hỗ trợ các dự án, mô hình chăn nuôi, gắn với tập huấn, tư vấn kỹ thuật và phát triển sản xuất.

Từ góc độ này, việc áp dụng các giải pháp xử lý chất thải ngay trong quá trình phát triển chăn nuôi không chỉ có ý nghĩa về môi trường mà còn góp phần nâng cao hiệu quả của mô hình sinh kế. Khi người dân biết tận dụng chất thải làm phân bón hữu cơ, sử dụng biogas hoặc áp dụng đệm lót sinh học, chi phí sản xuất có thể được tiết giảm, trong khi môi trường sống và điều kiện chăn nuôi được cải thiện.

Đặc biệt, đối với các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các giải pháp xử lý chất thải cần được lựa chọn theo hướng đơn giản, dễ áp dụng, phù hợp với quy mô đàn vật nuôi và khả năng đầu tư của từng hộ. Cùng với hỗ trợ về con giống, kỹ thuật và phát triển sản xuất, hướng dẫn người dân xử lý chất thải ngay từ chuồng nuôi sẽ giúp các mô hình sinh kế phát triển ổn định, hạn chế nguy cơ ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Cần tiếp tục nhân rộng mô hình phù hợp

Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực, việc xử lý chất thải trong chăn nuôi trên địa bàn Sơn La vẫn còn nhiều khó khăn. Phần lớn hoạt động chăn nuôi trâu, bò được thực hiện với quy mô nhỏ lẻ, phân tán trong khu dân cư; điều kiện đầu tư công trình xử lý chất thải của các hộ còn hạn chế. Một bộ phận người dân chưa có thói quen thu gom, phân loại và xử lý chất thải trước khi đưa ra môi trường.

Do đó, để nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường trong chăn nuôi, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật, xây dựng và nhân rộng các mô hình xử lý chất thải phù hợp với từng địa bàn. Trong đó, cần ưu tiên những giải pháp có chi phí hợp lý, dễ vận hành, tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có và tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp cho người chăn nuôi.

Bảo vệ môi trường, hướng tới chăn nuôi bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi - Ảnh 2.

Người dân xã Thuận Châu sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý chất thải tại chuồng trâu, góp phần giảm mùi hôi và bảo vệ môi trường chăn nuôi.

Ngành chức năng khuyến khích người chăn nuôi tận dụng chất thải để sản xuất phân bón hữu cơ, phát triển chăn nuôi theo hướng tuần hoàn; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường tại các cơ sở chăn nuôi, qua đó nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân.

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc nâng cao thu nhập cho người dân cần đi đôi với bảo vệ tài nguyên, môi trường và sức khỏe cộng đồng. Đối với chăn nuôi, mỗi chuồng trại được xử lý tốt chất thải không chỉ góp phần giảm ô nhiễm mà còn có thể tạo thêm nguồn phân bón, năng lượng và giá trị kinh tế.

Khi chất thải được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên có thể tái sử dụng, thay vì chỉ là gánh nặng phải xử lý, chăn nuôi tuần hoàn sẽ có thêm điều kiện phát triển. Đây là hướng đi phù hợp để Sơn La từng bước xây dựng ngành chăn nuôi theo hướng xanh, an toàn, hiệu quả; đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu phát triển sinh kế bền vững, nâng cao đời sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.