Bộ Khoa học và Công nghệ phát huy vai trò đầu mối triển khai Nghị quyết 57

<p style="text-align: justify;">Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra một mục tiêu có tính chiến lược và dài hạn: Đến năm 2045, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển vững chắc, trở thành nền tảng quan trọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao. Trong tiến trình đó, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) giữ vai trò trung tâm, triển khai nhiều chương trình, giải pháp trọng tâm nhằm góp phần đưa Việt Nam đạt được các mục tiêu đã đề ra.</p>

Bộ Khoa học và Công nghệ phát huy vai trò đầu mối triển khai Nghị quyết 57- Ảnh 1.

Bộ KH&CN phát huy vai trò đầu mối triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Từ định hướng chiến lược đến chính sách cụ thể

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chủ trì xây dựng, trình Chính phủ để trình Quốc hội xem xét, thông qua nhiều luật quan trọng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Qua đó, từng bước hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ, tạo nền tảng thể chế cho hoạt động đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia.

Trên nền tảng đó, Bộ tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống nghị định và văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm các quy định pháp luật được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả ngay khi có hiệu lực. Cách tiếp cận này góp phần khắc phục tình trạng "độ trễ chính sách", đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Gắn kết giữa hoàn thiện thể chế và định hướng phát triển dài hạn, các chủ trương lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục được cụ thể hóa bằng các quyết sách ở tầm quốc gia.

Trên cơ sở định hướng chiến lược, ngày 12/6/2025, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1131/QĐ-TTg, công bố danh mục 11 nhóm công nghệ và 35 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược, xác định rõ các hướng ưu tiên ở tầm quốc gia.

Tiếp đó, ngày 27/6/2025, Quốc hội thông qua Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã lần đầu tiên luật hóa các khái niệm "công nghệ chiến lược" và "sản phẩm công nghệ chiến lược", tạo nền tảng pháp lý quan trọng để xây dựng cơ chế chính sách đặc thù, tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực có tính dẫn dắt.

Trên nền tảng khung pháp lý mới, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tham mưu triển khai các chương trình, đề án trọng điểm như Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược (Quyết định 2815/QĐ-TTg), Thủ tướng Chính phủ xem xét Đề án phát triển hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia phục vụ công nghệ chiến lược… nhằm từng bước nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, hướng tới hình thành các ngành công nghiệp công nghệ chiến lược, gắn kết chặt chẽ giữa hạ tầng, thể chế, nhân lực và thị trường.

Đáng chú ý, Bộ chuyển mạnh từ cơ chế "tự đề xuất nhiệm vụ" sang cơ chế "chủ động đặt hàng", chủ động xác định các bài toán lớn mang tính chiến lược của quốc gia và giao nhiệm vụ cho các tổ chức, doanh nghiệp có đủ năng lực thực hiện. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý khoa học, công nghệ, góp phần nâng cao khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu, rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư của Nhà nước.

Cùng với đó, Bộ đang tiến hành tái cấu trúc hệ thống chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2030 theo hướng tinh gọn, tập trung vào các bài toán lớn, gắn với công nghệ và sản phẩm cụ thể, có mục tiêu, cơ chế quản lý, tài trợ, giải ngân và đánh giá rõ ràng. Việc tái cấu trúc này nhằm nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và sử dụng hiệu quả nguồn lực nhà nước, dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 4/2026.

Tiến trình làm chủ công nghệ chiến lược

Việc lựa chọn sản phẩm công nghệ chiến lược được Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện trên cơ sở ba nhóm tiêu chí cốt lõi. Thứ nhất, góp phần giải quyết các bài toán lớn của đất nước, có tác động trực tiếp đến tăng năng suất, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh. Thứ hai, có khả năng thay thế nhập khẩu, tiềm năng xuất khẩu và thương mại hóa trong thời gian hợp lý. Thứ ba, có điều kiện làm chủ công nghệ lõi, giữ được giá trị Việt Nam trong chuỗi sản phẩm và dịch vụ.

Bộ Khoa học và Công nghệ phát huy vai trò đầu mối triển khai Nghị quyết 57- Ảnh 2.

Các sản phẩm camera AI xử lý tại biên tham dự Triển lãm Sơ kết Đề án 06 giai đoạn 2022-2025.

Trên cơ sở đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xác định 6 sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên, gồm: Mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) và trợ lý ảo tiếng Việt; AI camera xử lý tại biên; robot di động tự hành; hệ thống thiết bị mạng di động 5G; hạ tầng mạng blockchain và các ứng dụng truy xuất nguồn gốc, tài sản mã hóa; thiết bị bay không người lái (UAV). Đây là những lĩnh vực vừa có khả năng thương mại hóa nhanh, vừa mang ý nghĩa chiến lược đối với nâng cao năng suất lao động, bảo đảm an ninh, an toàn và thúc đẩy xuất khẩu công nghệ.

Trong quá trình triển khai, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với các doanh nghiệp lớn, các viện nghiên cứu, trường đại học để hoàn thiện tiêu chí, xác định đầu mối chủ trì và xây dựng lộ trình thực hiện cho từng sản phẩm. Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng yêu cầu cụ thể hóa danh mục công việc theo tinh thần "7 rõ": rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ thẩm quyền, rõ sản phẩm, rõ nguồn lực; đồng thời bổ nhiệm "tổng công trình sư" làm đầu mối dẫn dắt mỗi nhóm nhiệm vụ.

Cùng với hoàn thiện cơ chế, chính sách, Bộ Khoa học và Công nghệ chú trọng bố trí và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia (NAFOSTED) được tái cơ cấu theo hướng rút gọn thủ tục, ưu tiên nguồn vốn cho các nhiệm vụ chiến lược. Bộ cũng xây dựng đề án phát triển hạ tầng nghiên cứu, phấn đấu hình thành từ 7 đến 10 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia hoạt động theo mô hình mở, tăng cường hợp tác công-tư và kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp, rút ngắn quãng đường từ nghiên cứu đến sản phẩm trên thị trường.

Bên cạnh đó, Bộ thúc đẩy hình thành các cụm công nghệ chiến lược tại địa phương, gắn với lợi thế vùng và cơ chế đặc thù về đầu tư, đất đai, nhân lực. Một trong những trọng tâm là phát huy vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp lớn, các viện nghiên cứu đầu ngành thúc đẩy mô hình hợp tác "ba nhà" giữa Nhà nước, viện - trường và doanh nghiệp; hình thành các liên minh nghiên cứu và phát triển xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và thị trường, qua đó góp phần tạo ra các sản phẩm công nghệ chiến lược "Make in VietNam" phục vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.