Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Chuyển viễn thông từ hạ tầng kết nối sang hạ tầng năng lực số
<p style="text-align: justify;">Tại hội nghị của Khối Bưu chính – Viễn thông, Bộ trưởng Nuyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh viễn thông không thể chỉ “nâng G” từ 3G lên 4G, 5G để tăng thêm ít giá trị. Trong bối cảnh kinh tế số tăng nhanh, viễn thông phải chuyển vai: không chỉ là hạ tầng kết nối, mà là hạ tầng năng lực số cho doanh nghiệp và xã hội, góp phần tạo động lực tăng trưởng mới cho đất nước.</p>

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, Thứ trưởng Phạm Đức Long chụp ảnh lưu niệm với lãnh đạo các đơn vị qua các thời kỳ, các doanh nghiệp viễn thông.
Ngày 10/01/2026, tại Hà Nội, Khối các đơn vị lĩnh vực Bưu chính Viễn thông (BCVT) của Bộ KH&CN gồm 6 đơn vị: Cục Tần số Vô Tuyến điện (ARFM), Cục Bưu điện Trung ương (CPT), Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), Cục Viễn thông (VNTA), Vụ Bưu chính, Quỹ Dịch vụ Viễn thông Công ích Việt Nam (VTCI) đã tổ chức hội nghị triển khai chương trình công tác năm 2026.
Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng, Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Đức Long tham dự và chỉ đạo hội nghị.
Hội nghị còn có sự tham dự của lãnh đạo các đơn vị qua các thời kỳ, các doanh nghiệp (DN) viễn thông và hơn 800 cán bộ tham dự trực tiếp và trực tuyến.
Năm bứt phá của hạ tầng số Việt Nam
Báo cáo về những kết quả hoạt động nổi bật của Khối, ông Lê Văn Tuấn, Cục trưởng Cục Tần số Vô tuyến điện (VTĐ) nhấn mạnh trước hết là công tác thể chế.
Trong năm 2025, khối BCVT đã hoàn thành một khối lượng lớn số văn bản quy phạm pháp luật (QPPL). Số lượng văn bản hoàn thành chiếm hơn 30% số lượng văn bản QPPL của cả nhiệm kỳ 2020 - 2025. Khối có 3 luật, thì trong nhiệm kỳ đã hoàn thành sửa 2 luật, còn luật Bưu chính sẽ được sửa đổi trong năm 2026.

Ông Lê Văn Tuấn, Cục trưởng Cục Tần số Vô tuyến điện
Năm 2025 là năm bứt phá của hạ tầng số Việt Nam, cả về tốc độ, quy mô và độ bao phủ, thể hiện qua một số chỉ tiêu nổi bật như: Internet băng rộng cố định tăng 4,5 lần, xếp hạng 11 thế giới, tăng 49 bậc so với đầu nhiệm kỳ. Internet băng rộng di động tăng 4,7 lần so với đầu nhiệm kỳ, gấp 2 lần so với 2024, xếp hạng 17 thế giới, tăng 45 bậc, đạt tốc độ 160 Mbps. Hạ tầng 4G phủ sóng đạt 99,48% dân số; 5G tăng trưởng đột phá với vùng phủ từ 0,93% năm 2023 lên 90,2% (2025), số trạm 5G từ 184 tăng lên 35.304 trạm. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng cáp quang đạt 87,6% năm 2025.
Trong giai đoạn 2020 - 2025, với tinh thần chủ động, tích cực trong công tác chỉ đạo, điều phối phủ sóng vùng lõm sóng, Bộ KH&CN đã hoàn thành phủ lõm sóng cho 3.238 thôn, bản.
Năm 2025 cũng ghi dấu ấn khi Việt Nam cũng được Gartner ghi nhận là 1 trong 5 quốc gia đầu tiên sản xuất được thiết bị 5G.
Về thúc đẩy hạ tầng số, công tác quản lý tần số, năm 2025 Cục Tần số VTĐ đã tổ chức đấu giá thành công thêm 2 cuộc đấu giá, nâng tổng lượng băng tần cấp cho di động tăng gấp 2 lần so với đầu nhiệm kỳ. Xác lập được thời điểm tắt sóng 2G, 3G trong quy hoạch băng tần và tổ chức ngừng 2G là một dấu mốc lớn, chuyển từ hạ tầng "a-lô" sang hạ tầng dữ liệu. Xác lập được các điều kiện để cấp lại và thực thi việc cấp lại các băng tần, thay vì thu hồi lại băng tần và tổ chức đấu giá lại, giữ ổn định cho thị trường di động 120 triệu thuê bao, đặc biệt là mạng 4G.

Toàn cảnh hội nghị
Hệ thống thông tin liên lạc liên lạc phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước được bảo đảm an toàn, thông suốt, tin cậy trong mọi tình huống. Hệ thống đáp ứng các phiên họp quy mô 16.000 điểm cầu, với khoảng 1,5 triệu đảng viên, thể hiện năng lực điều hành tập trung, hiện đại. Hạ tầng Mạng Truyền số liệu chuyên dùng được nâng cấp, tái cấu trúc trong 30 ngày, phục vụ mô hình chính quyền địa phương 2 cấp không gián đoạn.
Về lĩnh vực bưu chính, giai đoạn 2020 - 2025 ghi nhận sự phát triển rất nhanh và ổn định của lĩnh vực bưu chính với mức tăng trưởng doanh thu bưu chính bình quân 18,6%/năm, tăng trưởng sản lượng bưu gửi bình quân 31,5%/năm. Năm 2025, doanh thu dịch vụ bưu chính đạt 87.000 tỷ đồng, sản lượng bưu gửi đạt 4,2 tỷ bưu gửi, phục vụ nhu cầu đa dạng của xã hội.
Quỹ Dịch vụ VTCI thực hiện hỗ trợ khoảng 1,9 triệu bộ đầu thu truyền hình số cho hộ nghèo, hộ cận nghèo; Quỹ đã phối hợp với các DN viễn thông thực xây dựng: 1.817 trạm BTS để cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất tại các khu vực đặc biệt khó khăn; 1.755 điểm cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất (cáp quang đến hộ gia đình) tại các khu vực đặc biệt khó khăn.
Về IPv6, tỷ lệ triển khai đạt 67,68%, đứng thứ 7 thế giới. Trọng tâm hiện nay không chỉ là mở rộng tỷ lệ mà là chuyển dịch kiến trúc mạng từ dual-stack (IPv4 và IPv6) sang mạng chỉ IPv6 only, chuẩn bị cho lộ trình ngừng phụ thuộc IPv4, phù hợp với xu thế toàn cầu và yêu cầu mở rộng Internet, IoT, 5G/6G. Tên miền quốc gia ".vn", quy mô đạt 683.621 tên miền, xếp thứ 3 ASEAN, tăng trưởng ổn định 3-6% mỗi năm, cho thấy mức độ tin cậy cao của hạ tầng DNS và sự chấp nhận rộng rãi của thị trường.
Hệ thống đo lượng tốc độ Internet iSpeed do VNNIC xây dựng hiện thu thập 2,3 triệu mẫu đo mỗi tháng, tăng 230% so với năm 2023, 1,3 triệu lượt cài đặt ứng dụng.
Cuộc đổi mới của ngành Viễn thông
Trước các kết quả đạt được của Khối BCVT trong năm 2025 cũng như cả giai đoạn 5 năm, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực của 6 đơn vị.

Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng
Bộ trưởng chia sẻ, năm 2025 là một năm đặc biệt, mang tính bước ngoặt đối với Việt Nam, khi đất nước chính thức xác lập một mục tiêu phát triển có tầm nhìn dài hạn và đầy thách thức. Trong vòng 20 năm tới, quy mô GDP sẽ tăng xấp xỉ 5 lần, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao. Đây là mục tiêu rất lớn, thậm chí chưa có nhiều quốc gia trên thế giới từng đặt ra với mức độ tham vọng cao như vậy trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.
Đặt mục tiêu đó trong bối cảnh hiện nay, Bộ trưởng thẳng thắn nhìn nhận rằng, ngành Viễn thông đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình và đang đứng trước một ngã rẽ mang tính chiến lược. Trong nhiều thập kỷ qua, viễn thông Việt Nam đã làm được điều mang tính nền tảng, phổ cập kết nối cả cố định và di động, đưa Internet đến với mọi người dân, mọi vùng miền, tạo dựng hạ tầng thiết yếu cho công cuộc chuyển đổi số quốc gia. Đây là một thành tựu có ý nghĩa lịch sử, đặt nền móng cho sự phát triển của kinh tế số và xã hội số.
Tuy nhiên, Bộ trưởng chỉ rõ rằng, mô hình tăng trưởng truyền thống của ngành viễn thông hiện nay đã chạm tới giới hạn. Tăng trưởng dựa trên số lượng thuê bao, lưu lượng sử dụng hay doanh thu bình quân trên mỗi thuê bao không còn nhiều dư địa mở rộng. Từ 3G, 4G đến 5G, nếu chỉ dừng lại ở việc nâng cấp "G" cao hơn, giá trị gia tăng tạo ra là rất hạn chế. Trong khi đó, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số đang bùng nổ mạnh mẽ trên toàn cầu, thì doanh thu viễn thông lại tăng trưởng chậm, thậm chí thấp hơn đáng kể so với tốc độ phát triển của nền kinh tế số.
Bộ trưởng chỉ ra một nghịch lý đáng suy ngẫm, viễn thông là hạ tầng của kỷ nguyên số, nhưng chính ngành viễn thông lại đang tăng trưởng chậm hơn nền kinh tế số từ 5 đến 6 lần. Theo Bộ trưởng, nguyên nhân cốt lõi nằm ở chỗ tư duy phát triển của ngành vẫn chủ yếu xoay quanh vai trò cung cấp kết nối, trong khi thế giới đã chuyển mạnh sang cung cấp năng lực số. Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Nếu viễn thông chỉ tiếp tục bán phút gọi hay từng gigabyte dữ liệu, thì giá trị ngày càng giảm, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, biên lợi nhuận ngày càng mỏng, cuối cùng sẽ không còn đủ nguồn lực để tái đầu tư cho hạ tầng.
Từ thực tế đó, Bộ trưởng nhấn mạnh, đã đến lúc phải chuyển đổi từ các công ty viễn thông truyền thống (TelCo) sang các công ty hạ tầng, cụ thể là hạ tầng số (Infrastructure Company). Đây không chỉ là một sự điều chỉnh chiến lược, mà là một chuyển dịch mang tính sống còn. Viễn thông không thể chỉ được nhìn nhận là hạ tầng kết nối, mà phải trở thành hạ tầng năng lực số của toàn bộ nền kinh tế. Trên thực tế, vấn đề này đã được đặt ra và thảo luận từ 6–7 năm trước, như một cuộc chuyển dịch từ "A-lô" sang hạ tầng của nền kinh tế số – và Bộ trưởng gọi đó là cuộc đổi mới lần thứ hai của ngành viễn thông.
Sự chuyển đổi này đồng nghĩa với việc viễn thông không chỉ bán băng thông, mà phải cung cấp các gói dịch vụ năng lực số hoàn chỉnh, bao gồm điện toán đám mây (Cloud), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu (Data), an toàn – an ninh mạng (Security), Internet vạn vật (IoT) và các nền tảng số. Những dịch vụ này cần được coi như một loại "điện mới" – hạ tầng đầu vào thiết yếu cho doanh nghiệp và xã hội trong kỷ nguyên số. Viễn thông phải trở thành nhà cung cấp năng lực số trọn gói, thay vì chỉ là nhà vận hành mạng lưới.
Theo Bộ trưởng, vai trò lịch sử của ngành viễn thông trong giai đoạn tới là đứng ra làm đầu mối kết nối, tích hợp các thành tố công nghệ đó thành những dịch vụ hoàn chỉnh cung cấp cho xã hội. Ngành có thể không sở hữu toàn bộ các thành phần công nghệ, nhưng là chủ thể hiếm hoi có đủ năng lực, vị thế và hạ tầng để "đóng gói" và tích hợp chúng thành giải pháp tổng thể.
Trong bối cảnh đó, công nghệ 5G không được hiểu đơn thuần là tốc độ nhanh hơn. Bộ trưởng khẳng định, nếu 5G chỉ để xem video nét hơn hay tải dữ liệu nhanh hơn, thì 5G sẽ thất bại về mặt kinh tế. 5G chỉ thực sự phát huy giá trị khi được triển khai sâu vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ có giá trị gia tăng cao như nhà máy, cảng biển, logistics, y tế, năng lượng và đô thị thông minh, để trở thành hạ tầng của sản xuất, của đổi mới sáng tạo và của tăng trưởng chất lượng cao.

Ngành Viễn thông không còn trong "vùng an toàn"
Trong giai đoạn phát triển mới, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh rằng ngành Viễn thông Việt Nam đã được Nhà nước giữ trong "vùng an toàn" suốt nhiều năm qua, nhưng cách tiếp cận đó không còn phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ và chuyển đổi số toàn cầu ngày càng gay gắt. Đã đến lúc phải thoát khỏi tư duy quản lý cũ, chuyển từ quản lý hạ tầng viễn thông đơn thuần sang quản trị hạ tầng chiến lược quốc gia.
Bộ trưởng thẳng thắn chỉ rõ, nếu viễn thông không thúc đẩy được sự phát triển của nền kinh tế, thì chính nền tảng của tăng trưởng quốc gia cũng sẽ bị suy yếu. Viễn thông không còn là lĩnh vực "ổn định để giữ", mà phải trở thành lĩnh vực sáng tạo để dẫn dắt. Trong bối cảnh đó, đổi mới không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc đối với toàn ngành.
Sự thay đổi mang tính căn cơ này, theo Bộ trưởng, phải bắt đầu từ chính quản lý nhà nước. Trước hết là sự chuyển dịch tư duy từ quản lý tần số thuần túy sang quản lý tần số vì mục tiêu phát triển, thay vì chỉ tập trung tối đa hóa kết quả đấu thầu. Đồng thời, quản lý nhà nước cần chuyển từ mô hình cấp phép truyền thống sang thiết kế "luật chơi mới", xây dựng các khung chính sách thử nghiệm (sandbox) để tạo không gian cho đổi mới sáng tạo.
Nhà nước không làm thay doanh nghiệp, nhưng có trách nhiệm mở đường về thể chế, cho phép thử nghiệm các mô hình kinh doanh mới, dịch vụ mới và chấp nhận những thất bại có kiểm soát. Đây chính là nhiệm vụ mới, thậm chí là một "nghề mới" của quản lý nhà nước trong lĩnh vực viễn thông. Thay vì chỉ tập trung vào các hoạt động quản lý quen thuộc như cấp phép, xử lý SIM rác, quản lý giá cước hay khuyến mại, trọng tâm cần được dịch chuyển sang thiết kế mô hình phát triển mới, xây dựng sandbox và đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình thử nghiệm các dịch vụ số thế hệ mới.
Bộ trưởng khẳng định, ngành Viễn thông Việt Nam không hề yếu, nhưng đang đứng trước nguy cơ "già đi" rất nhanh nếu không quyết liệt đổi mới. Nếu tiếp tục vận hành theo quán tính cũ, ngành có thể đánh mất vai trò dẫn dắt trong kỷ nguyên số. Tuy nhiên, Bộ trưởng bày tỏ niềm tin rằng viễn thông Việt Nam hoàn toàn có đủ năng lực để bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới, một cuộc đổi mới lần thứ hai, diễn ra sau gần 40 năm kể từ cuộc đổi mới lần thứ nhất mang tính lịch sử.
Trong tầm nhìn dài hạn, viễn thông của 10 năm tới không chỉ dừng lại ở việc kết nối con người, mà phải kết nối sản xuất, kết nối tri thức và kết nối tương lai. Viễn thông phải trở thành hạ tầng sản xuất và hạ tầng tri thức của quốc gia, đóng vai trò nền tảng cho đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Bộ trưởng nhấn mạnh rằng quản lý nhà nước về viễn thông phải thay đổi toàn diện, từ thể chế đến phương thức quản lý, từ tư duy kiểm soát sang tư duy kiến tạo. Chỉ khi thực sự đóng vai trò kiến tạo phát triển, quản lý nhà nước mới có thể thúc đẩy được cuộc chuyển đổi mang tính lịch sử của ngành Viễn thông, đưa lĩnh vực này trở thành một trong những trụ cột quan trọng của mô hình phát triển quốc gia trong kỷ nguyên số.