“Cây đại thụ” đã đưa trầm tích luận Việt Nam vươn ra biển lớn
<p style="text-align: justify;">Nhắc đến lĩnh vực địa chất trầm tích tại Việt Nam, không thể không nhắc đến GS.TS.NGND. Trần Nghi - một nhà khoa học đầu ngành, người đã dành trọn hơn 40 năm miệt mài nghiên cứu và cống hiến. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là minh chứng cho một ý chí vươn tới đỉnh cao khoa học, để lại những di sản vô giá cho nền địa chất nước nhà. Ông là người đã gieo mầm trí tuệ trong ngành địa chất.</p>
Từ cậu học trò xuất sắc xứ Quảng đến nhà địa chất tài ba
GS. Trần Nghi sinh năm 1947 trong một gia đình với nhiều thế hệ giàu truyền thống hiếu học tại xã Quảng Minh, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, nay là xã Nam Gianh, tỉnh Quảng Trị.
Ngay từ thời phổ thông, ông đã bộc lộ trí tuệ xuất chúng khi đạt giải nhất học sinh giỏi văn toàn tỉnh, đồng thời là học sinh duy nhất của tỉnh Quảng Bình vinh dự nhận phần thưởng Bác Hồ dành cho học sinh đạt 100% điểm tối đa cả 10 môn học.
Năm 1970, ông tốt nghiệp loại ưu ngành Địa chất tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, được GS.TS. NGND. Nguyễn Văn Chiển giữ lại làm cán bộ giảng dạy.

GS.TS. Trần Nghi và người thầy đã đưa ông đến với những thành công nổi bật trong ngành Địa chất - GS.TS. Nguyễn Văn Chiển. (Ảnh: vietnamhoinhap.vn).
Năm 1977, ông đỗ thủ khoa kỳ thi tuyển nghiên cứu sinh đi nước ngoài khối Khoa học Trái Đất và sau đó bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ về Địa chất Dầu khí tại Rumani vào năm 1982. Lời căn dặn của người thầy Nguyễn Văn Chiển về sứ mệnh "xây dựng và phát triển Khoa Địa chất ngang tầm thế giới" đã trở thành ngọn lửa soi đường, thôi thúc GS. Trần Nghi nghiên cứu địa chất trầm tích đổi mới và sáng tạo tại Việt Nam.
Về nước, GS.TS. Trần Nghi tiếp tục công tác tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nơi đây, ông đã đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau như: Phó Chủ nhiệm khoa Địa lý - Địa chất Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1984 - 1992), Chủ nhiệm khoa Địa chất Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (1996 - 2003); Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (2003 - 2008).
Dù ở bất cứ cương vị, vai trò nào từng đảm nhiệm, GS. Nghi vẫn luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được ban lãnh đạo giao phó, được đồng nghiệp kính phục, học trò tin yêu.
Năm 1996, ông được phong hàm Giáo sư, trở thành một trong ba Giáo sư trẻ nhất của ngành Khoa học Trái đất ở Việt Nam. GS.Trần Nghi vinh dự được Nhà nước phong là Nhà giáo Nhân dân, danh hiệu cao quý nhất của một nhà giáo bậc đại học ở Việt Nam. Ông cũng là NGND trẻ nhất trong ba NGND của Trường ĐHKHTN được bầu chọn năm 2006.
Điều đặc biệt đối với GS.TS. Trần Nghi là ông luôn đam mê cháy bỏng nghiên cứu khoa học cả khi gắn với kiêm nhiệm nhiều công tác quản lý.
Tính đến nay, GS.TS. Trần Nghi đã viết và xuất bản 26 đầu sách giáo trình và chuyên khảo (viết một mình và đồng chủ biên 10 cuốn, đồng tác giả (16 cuốn).
Ông cũng đã viết 170 bài báo đăng các tạp chí chuyên ngành ở trong nước và quốc tế. Các giáo trình đã và đang phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học về lĩnh vực Khoa học Trái Đất ở các trường đại học trong nước, đặc biệt là đào tạo sau đại học.
Ông đã trực tiếp hướng dẫn 37 nghiên cứu sinh đã nhận bằng Tiến sĩ, trong đó có 22 Tiến sĩ có đề tài liên quan đến Cụm công trình "Địa chất Trầm tích Việt Nam - Lý luận và Thực tiễn" (từ 2013-2025).
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
- Chủ nhiệm chương trình về biển KC-09/11-15 thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ
- Chủ nhiệm 5 đề tài cấp nhà nước: (1) Đề tài độc lập Bắc Trường Sơn; (2) Đề tài KC-09-23/05-08; (3) KC-09-20/06-(4) 10; KC-09-02/16-20.
- Chủ nhiệm 10 đề tài nhánh cấp nhà nước: 4 đề tài KH&CN và KC-09 do Trường Đại học Mỏ-Địa chất là cơ quan chủ trì; 2 đề tài KC-09 do Trường Đại học Khoa học Tự nhiên là cơ quan chủ trì; 1 đề tài KC-09 do Viện Địa chất - Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam chủ trì và 3 đề tài KC-09 do Viện Địa chất và Địa Vật lý biển - Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam chủ trì.
- Đồng chủ trì một dự án lớn cấp nhà nước thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi trường: "Điều tra, đánh giá tích hợp và dự báo biến động điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, và tai biến thiên nhiên vùng biển từ Thanh Hóa đến Bình Thuận phục vụ phát triển kinh tế biển"
- Chủ trì 3 dự án cấp nhà nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Chủ trì 4 đề tài cấp Bộ và Quốc gia - Đại học Quốc gia Hà Nội
Giá trị đặc biệt xuất sắc của Cụm công trình khoa học
Tinh hoa cống hiến của GS. Trần Nghi được hội tụ trong Cụm công trình "Địa chất Trầm tích Việt Nam - Lý luận và Thực tiễn", bao gồm 5 công trình mang tầm vóc quốc tế, đột phá cả về lý thuyết và thực tiễn:
"Giải mã" tuổi của hang động Phong Nha - Kẻ Bàng
Năm 1998, hồ sơ Di sản Thiên nhiên Thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng từng bị UNESCO từ chối. Nhận trọng trách chủ trì nghiên cứu lại nội dung địa chất, địa mạo, GS. Trần Nghi đã áp dụng hệ phương pháp "Địa chất Trầm tích karst" thay cho phương pháp truyền thống. Ông đã chứng minh thành công lịch sử phát triển địa chất trên 400 triệu năm và xác định tuổi cổ nhất của hang động là 32 triệu năm. Thành quả này mang ý nghĩa quyết định, giúp Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới vào năm 2003, tạo nên cú bứt phá ngoạn mục cho kinh tế du lịch tỉnh Quảng Bình.

Với học trò, GS.TS. Trần Nghi là người thầy mẫu mực, đáng kính, người thắp lên ngọn lửa nhiệt huyết, niềm say mê khoa học (Ảnh: vietnamhoinhap.vn).
Bản đồ địa chất thềm lục địa khẳng định chủ quyền biển đảo
GS. Trần Nghi là chủ biên "Bản đồ địa chất tỷ lệ 1/4.000.000" xuất bản năm 2009.
Đột phá của công trình này là sáng tạo ra nguyên tắc thành lập bản đồ theo phương pháp chiếu thẳng đứng chồng chập các tổ hợp đơn vị địa tầng, giải quyết sự bế tắc của phương pháp đo vẽ truyền thống.
Bản đồ không chỉ là cơ sở quy hoạch kinh tế biển, tìm kiếm khoáng sản mà còn là minh chứng khoa học đanh thép khẳng định chủ quyền biển đảo, chứng minh thềm lục địa Việt Nam có cấu trúc địa chất liên tục, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đặt nền móng lý luận qua chuyên khảo "Địa chất Trầm tích Việt Nam"
Xuất bản bằng tiếng Việt (2017) và tiếng Anh (2022), chuyên khảo "Địa chất Trầm tích Việt Nam" đề xuất luận thuyết về các bể trầm tích Kainozoi trên thềm lục địa Việt Nam sụt lún lan tỏa theo chu kỳ và không tách giãn. GS. Trần Nghi đã xây dựng mô hình địa tầng phân tập mới, cùng nhiều công thức định lượng (hệ số mài tròn, hệ số chọn lọc, hệ số trưởng thành...) áp dụng hiệu quả trong tìm kiếm dầu khí.
Công trình được các chuyên gia từ Nga, Ba Lan đánh giá cao, mở ra giai đoạn hội nhập của trầm tích luận Việt Nam với thế giới.
Từ điển khổng lồ Atlas Trầm tích Việt Nam
Với dung lượng lên tới 1000 trang (bản tiếng Việt 2019, tiếng Anh 2023), bộ Atlas là cơ sở dữ liệu đồ sộ mô tả, luận giải điều kiện thành tạo của 1000 hình ảnh mẫu đá từ Cambri đến Đệ Tứ. Đây được xem là cẩm nang vô giá cho sinh viên, nhà nghiên cứu và các kỹ sư địa chất dầu khí, thể hiện năng lực làm việc phi thường và kiến thức uyên bác của GS. Trần Nghi. Ông cũng phát hiện và giải thích các hiện tượng trầm tích độc đáo như turbidit ở quần đảo Cô Tô và đảo Cát Bà.
Cứu nguy bờ biển Nam Định Qua công trình nghiên cứu đới bờ từ Cửa Ba Lạt đến Cửa Đáy, GS. Trần Nghi đưa ra khái niệm "Địa - hệ sinh thái". Ông đã chỉ ra nguyên nhân gốc rễ gây xói lở nghiêm trọng bờ biển Nam Định là do việc đắp đập dòng Sông Sò năm 1960 gây thiếu hụt phù sa, từ đó đề xuất giải pháp thuận thiên như phá đập để trả lại dòng chảy Sông Hồng về cửa Hà Lạn, thiết lập các bẫy giữ cát.
Cụm công trình "Địa chất Trầm tích Việt Nam - Lý luận và Thực tiễn" của GS.TS. NGND. Trần Nghi không chỉ mang giá trị hàn lâm quốc tế mà còn giải quyết những bài toán sinh tử của đất nước về tài nguyên, môi trường và chủ quyền lãnh thổ. Chân dung ông in đậm trong lòng đồng nghiệp và học trò như một tấm gương sáng ngời về lòng say mê khoa học, một nhà giáo xuất sắc và một "cây đại thụ" đã đưa trầm tích luận Việt Nam vươn ra biển lớn.