Chuẩn hóa đánh giá hệ thống an toàn thực phẩm từ khâu chứng nhận
<p style="text-align: justify;">Một sản phẩm có kết quả kiểm nghiệm đạt yêu cầu chưa đủ để phản ánh toàn bộ quá trình sản xuất. TCVN ISO 22003-2:2025 đưa ra các yêu cầu đối với tổ chức đánh giá, chứng nhận, từ năng lực chuyên gia đến quy trình kiểm tra, góp phần nâng cao độ tin cậy của hoạt động chứng nhận an toàn thực phẩm.</p>
Khi lựa chọn thực phẩm, người tiêu dùng thường quan tâm đến nguồn gốc, hạn sử dụng và chứng nhận chất lượng. Với doanh nghiệp, việc được chứng nhận còn giúp chứng minh năng lực kiểm soát an toàn thực phẩm trong sản xuất, chế biến và phân phối.
Tuy nhiên, một chứng nhận chỉ có giá trị khi quá trình đánh giá được thực hiện đúng yêu cầu. Tổ chức chứng nhận phải có đủ năng lực chuyên môn, bảo đảm tính khách quan và kiểm tra đúng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp.
Theo TCVN ISO 22003-2:2025, tiêu chuẩn bổ sung cho TCVN ISO/IEC 17065:2013 và quy định các quy tắc áp dụng cho việc đánh giá hệ thống an toàn thực phẩm (HTATTP), chứng nhận sản phẩm, quá trình và dịch vụ tuân thủ các yêu cầu của chương trình chứng nhận dựa trên những nguyên tắc an toàn thực phẩm được chấp nhận, đồng thời bao gồm các yếu tố của hệ thống quản lý.

TCVN ISO 22003-2:2025 thiết lập một khung yêu cầu cho tổ chức thực hiện đánh giá và chứng nhận sản phẩm, quá trình, dịch vụ có gắn với đánh giá HTATTP. Ảnh minh họa
Chứng nhận phải đánh giá cả quá trình sản xuất
Điểm đáng chú ý là tiêu chuẩn không áp dụng đối với hoạt động chứng nhận chỉ dựa trên thử nghiệm sản phẩm hoặc hoạt động giám định. Tiêu chuẩn cũng không áp dụng cho các chương trình an toàn thực phẩm theo TCVN ISO/IEC 17065 nếu chương trình đó không bao gồm các nguyên tắc an toàn thực phẩm và các yếu tố hệ thống quản lý đã được chấp nhận.
Chứng nhận HTATTP được xác định là hoạt động đánh giá sự phù hợp bên thứ ba. Tuy nhiên, tiêu chuẩn lưu ý việc chứng nhận HTATTP không phải là sự xác nhận rằng sản phẩm của tổ chức trong chuỗi thực phẩm chắc chắn an toàn hoặc phù hợp. Việc chứng nhận yêu cầu tổ chức đáp ứng các yêu cầu pháp luật hiện hành liên quan đến an toàn thực phẩm thông qua hệ thống của mình.
Có thể hình dung tại một cơ sở chế biến rau quả. Kết quả kiểm nghiệm một lô hàng chỉ phản ánh các chỉ tiêu được kiểm tra trên mẫu thử. Trong khi đó, đánh giá hệ thống an toàn thực phẩm còn xem xét cách doanh nghiệp kiểm soát nguyên liệu đầu vào, vệ sinh nhà xưởng, chế biến, bảo quản và xử lý khi phát hiện sản phẩm không đạt yêu cầu.
HTATTP trong tiêu chuẩn bao gồm các chương trình tiên quyết và biện pháp kiểm soát thích hợp, dựa trên những nguyên tắc an toàn thực phẩm được quốc tế chấp nhận. Các chương trình tiên quyết có thể bao gồm thực hành nông nghiệp tốt (GAP), thực hành thú y tốt (GVP), thực hành sản xuất tốt (GMP), thực hành vệ sinh tốt (GHP), thực hành dược tốt (GPP), thực hành phân phối tốt (GDP) và thực hành thương mại tốt (GTP).
Một nhóm yêu cầu quan trọng của TCVN ISO 22003-2:2025 là các yêu cầu chung đối với tổ chức chứng nhận. Tiêu chuẩn đề cập vấn đề pháp lý và hợp đồng, quản lý tính khách quan, trách nhiệm pháp lý và tài chính, điều kiện không phân biệt đối xử, tính bảo mật và thông tin công khai.
Các yêu cầu này được đặt trong mối liên hệ với TCVN ISO/IEC 17065:2013. Tài liệu chứng nhận cũng phải nhận biết chi tiết loại hình và loại hình con mà HTATTP áp dụng.
Về cơ cấu, tổ chức chứng nhận phải đáp ứng các yêu cầu liên quan đến cơ cấu tổ chức, lãnh đạo cao nhất và cơ chế bảo vệ tính khách quan.
Chuẩn hóa năng lực chuyên gia và quy trình đánh giá
Đối với nguồn lực, tiêu chuẩn đặc biệt chú trọng năng lực của nhân sự tham gia quá trình chứng nhận. Khi xác định năng lực, tổ chức chứng nhận phải áp dụng các yêu cầu tại Phụ lục A và Phụ lục C. Năng lực không chỉ dựa vào trình độ chuyên môn hoặc kinh nghiệm mà còn phải xem xét khả năng áp dụng kiến thức và kỹ năng cần thiết.
Trong đó, nhân sự phải có khả năng áp dụng kiến thức liên quan đến an toàn thực phẩm, bao gồm các chương trình tiên quyết cụ thể, mối nguy về an toàn thực phẩm và biện pháp kiểm soát liên quan đến loại hình mà tổ chức chứng nhận hoạt động. Kết quả hoạt động của từng chuyên gia trong quá trình đánh giá tại chỗ cũng phải được định kỳ xem xét.
Về quá trình chứng nhận, tổ chức chứng nhận phải yêu cầu bên đăng ký cung cấp thông tin liên quan đến sản phẩm và quá trình để xác định thời lượng đánh giá. Khi xem xét đăng ký, tổ chức chứng nhận phải có đủ thông tin về sản phẩm, quá trình, dịch vụ, HTATTP và các địa điểm hoạt động; đồng thời xác định phạm vi chứng nhận, phương tiện sẵn có và khả năng thực hiện.
Tiêu chuẩn yêu cầu phạm vi chứng nhận phải được xác định phù hợp, không được loại trừ những hoạt động, quá trình, sản phẩm hoặc dịch vụ có ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm của sản phẩm cuối cùng theo trách nhiệm pháp lý đã xác định.
Đối với hoạt động đánh giá, tổ chức chứng nhận phải xây dựng chương trình đánh giá, trong đó có thể bao gồm đánh giá từ xa. Thời gian đánh giá phải được xác định theo phương pháp tại Phụ lục B và được lưu hồ sơ, kèm căn cứ chứng minh nếu tăng hoặc giảm thời lượng.
Với tổ chức có nhiều địa điểm, tiêu chuẩn cho phép áp dụng phương pháp lấy mẫu trong những trường hợp được quy định. Việc lấy mẫu phải bảo đảm không ảnh hưởng đến hiệu lực đánh giá và có căn cứ bằng văn bản. Khi lựa chọn địa điểm, cần tính đến kết quả đánh giá nội bộ, khiếu nại, thu hồi sản phẩm và những thay đổi liên quan.
Bên cạnh đó, mục tiêu đánh giá phải xác định sự phù hợp của HTATTP với tiêu chí đánh giá; khả năng đáp ứng yêu cầu pháp luật và hợp đồng; tính hiệu lực của hệ thống; đồng thời nhận biết những lĩnh vực có tiềm năng cải thiện.
Sau đánh giá, TCVN ISO 22003-2:2025 tiếp tục quy định về xem xét, quyết định chứng nhận, tài liệu chứng nhận, giám sát và những thay đổi ảnh hưởng đến chứng nhận. Tiêu chuẩn cũng đề cập việc chấm dứt, thu hẹp, đình chỉ hoặc thu hồi chứng nhận, quản lý hồ sơ, giải quyết khiếu nại và kháng cáo.