Chuyển giao công nghệ mở hướng phát triển vùng dược liệu ở Phong Điền

<p style="text-align: justify;">Việc ứng dụng khoa học và công nghệ (KH&CN) vào sản xuất Cà gai leo và Sa nhân tím tại khu vực Phong Điền, thành phố Huế đã giúp bà con nông dân từng bước làm chủ kỹ thuật từ nhân giống, trồng, chăm sóc đến thu hái, sơ chế; đồng thời mở hướng phát triển vùng nguyên liệu dược liệu, khai thác tiềm năng đất đai và tạo sinh kế ở khu vực nông thôn, gò đồi.</p>

Chuyển giao công nghệ mở hướng phát triển vùng dược liệu ở Phong Điền- Ảnh 1.

Trên vùng đất trước đây chủ yếu dành cho các loại cây trồng quen thuộc, Cà gai leo được đưa vào xây dựng mô hình với quy trình kỹ thuật từ cây giống đến nguyên liệu sau thu hoạch. Kết quả, 10 ha Cà gai leo đã cho 10 tấn nguyên liệu khô, tương đương khoảng 1 tấn/ha. Cùng với Cà gai leo, 10 ha Sa nhân tím cũng được xây dựng, thích hợp với khu vực vườn đồi, dưới tán rừng cũng mở ra hướng đi mới cho bà con nơi đây.

Hai loại cây cùng được đưa vào mô hình và cho những kết qủa tích cực. Điều đó cho thấy giá trị của ứng dụng KH&CN ở địa bàn nông thôn không chỉ nằm ở việc đưa giống cây mới vào sản xuất, mà còn giúp kiểm chứng khả năng thích nghi, lựa chọn cây trồng và phương thức canh tác phù hợp với điều kiện thực tế.

Đưa quy trình kỹ thuật đến với bà con

Cà gai leo và Sa nhân tím được lựa chọn trong Dự án "Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật xây dựng mô hình nhân giống, trồng và sơ chế dược liệu Cà gai leo và Sa nhân tím tại tỉnh Thừa Thiên Huế".

Dự án thuộc Chương trình "Hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016–2025".

Mô hình được triển khai tại xã Phong Xuân và xã Phong Sơn trước đây, nay thuộc phường Phong Điền và phường Phong Thái, thành phố Huế. Đây là khu vực có diện tích đất nông nghiệp, gò đồi và những điều kiện để nghiên cứu, lựa chọn cây dược liệu phù hợp đưa vào sản xuất.

Thông qua dự án, 5 quy trình công nghệ được tiếp nhận và chuyển giao từ Trung tâm Nghiên cứu dược liệu Bắc Trung Bộ. Với Cà gai leo, kỹ thuật bao quát các khâu chọn lọc, nhân giống; trồng, chăm sóc; thu hái, sơ chế và bảo quản theo định hướng thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc.

Đối với Sa nhân tím, các quy trình tập trung vào kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và chế biến. Công nghệ được chuyển giao vì vậy không dừng ở việc đưa cây giống về địa phương mà bao quát quá trình từ giống, canh tác đến nguyên liệu sau thu hoạch.

Đây là yếu tố quan trọng đối với sản xuất dược liệu. Chất lượng nguyên liệu không chỉ phụ thuộc vào giống mà còn chịu tác động của điều kiện canh tác, kỹ thuật chăm sóc, thời điểm thu hái, sơ chế và bảo quản. Một khâu thực hiện không đúng kỹ thuật có thể ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu cuối cùng.

Để kỹ thuật đi vào thực tế, dự án đào tạo 12 kỹ thuật viên cơ sở về nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hái và sơ chế dược liệu. Đây là lực lượng trực tiếp tiếp nhận công nghệ, hỗ trợ triển khai và duy trì kỹ thuật tại địa phương.

Cùng với đó, 200 lượt bà con nông dân được tập huấn những kỹ thuật cơ bản trong trồng Cà gai leo và Sa nhân tím. Người dân được tiếp cận kỹ thuật gắn với quá trình xây dựng mô hình, từng bước chuyển từ sản xuất dựa nhiều vào kinh nghiệm sang thực hiện theo yêu cầu kỹ thuật.

Việc hình thành đội ngũ kỹ thuật viên cơ sở song song với tập huấn cho bà con có ý nghĩa đối với khả năng duy trì mô hình. Công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi người trực tiếp sản xuất hiểu, áp dụng và từng bước làm chủ quy trình trên chính đồng đất của mình.

Kết quả trên 10 ha Cà gai leo cho thấy rõ hơn tác động của cách làm này. Sau quá trình trồng, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế, mô hình tạo ra 10 tấn nguyên liệu khô. Việc nguyên liệu được kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam V cho thấy sản phẩm làm ra không chỉ được đánh giá về sản lượng mà còn bằng yêu cầu chất lượng cụ thể.

Đối với bà con nông dân, đây là bước chuyển đáng chú ý khi tiếp cận sản xuất cây dược liệu. Thay vì chỉ quan tâm cây sinh trưởng và cho thu hoạch, người sản xuất phải chú ý đến chất lượng nguyên liệu ngay từ khâu giống, chăm sóc đến thu hái, sơ chế và bảo quản.

Chuyển giao công nghệ mở hướng phát triển vùng dược liệu ở Phong Điền- Ảnh 2.

Chọn cây phù hợp để phát triển sinh kế

Nếu Cà gai leo cho thấy khả năng hình thành vùng nguyên liệu khá rõ thì Sa nhân tím đem lại một kinh nghiệm khác từ chính thực tế sản xuất.

Mặc dù 10 ha Sa nhân tím được xây dựng theo kế hoạch, quá trình triển khai cho thấy cây có yêu cầu đặc thù về sinh trưởng, phù hợp hơn với điều kiện vườn đồi và khu vực dưới tán rừng, nếu so sánh với Cà gai leo thì Sa nhân tím vẫn còn có một số hạn chế nhất định trong việc mở rộng.

Kết quả này có ý nghĩa đối với việc lựa chọn hướng sản xuất cho người dân. Một cây dược liệu có giá trị không đồng nghĩa có thể phát triển ở mọi địa bàn. Nếu mở rộng diện tích khi chưa xác định rõ điều kiện sinh thái và kỹ thuật phù hợp, người trực tiếp sản xuất sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro.

Bởi vậy, giá trị của mô hình ứng dụng KH&CN vào thực tế còn nằm ở việc thử nghiệm để xác định cây nào phù hợp với từng vùng đất. Với Cà gai leo, kết quả về diện tích, sản lượng và chất lượng nguyên liệu tạo cơ sở để tiếp tục đánh giá khả năng phát triển vùng trồng. Với Sa nhân tím, thực tế đặt ra yêu cầu lựa chọn kỹ hơn khu vực sinh thái nếu muốn nhân rộng.

Đây cũng là cách KH&CN góp phần giảm rủi ro cho bà con nông dân: thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện kỹ thuật trước khi mở rộng sản xuất, thay vì phát triển cây trồng theo phong trào.

Tuy nhiên, làm chủ kỹ thuật và tạo được nguyên liệu mới là một phần của bài toán. Để cây dược liệu thực sự trở thành sinh kế bền vững, sản xuất phải gắn với nhu cầu thị trường và đầu ra ổn định.

Kết quả triển khai cho thấy nguyên liệu Cà gai leo đã bước đầu được thị trường tiếp nhận, song quy mô tiêu thụ còn nhỏ, hiệu quả kinh tế của vùng nguyên liệu chưa được phát huy tương xứng. Việc tìm kiếm đầu ra ổn định vì vậy vẫn là vấn đề cần tiếp tục giải quyết.

Điều này đặc biệt quan trọng với bà con nông dân. Khi chuyển sang một loại cây trồng mới, người dân không chỉ cần giống và kỹ thuật mà còn phải biết sản phẩm làm ra được tiêu thụ ở đâu, yêu cầu chất lượng như thế nào và khả năng duy trì sản xuất trong những vụ tiếp theo.

Do đó, phát triển vùng nguyên liệu dược liệu cần hình thành chuỗi liên kết từ KH&CN, người sản xuất đến sơ chế và thị trường. Công nghệ giúp lựa chọn giống, chuẩn hóa quy trình và kiểm soát chất lượng; người dân trực tiếp tổ chức sản xuất; thị trường quyết định khả năng duy trì và mở rộng vùng trồng.

Từ 5 quy trình công nghệ được chuyển giao, 12 kỹ thuật viên cơ sở được đào tạo và 200 lượt bà con nông dân được tập huấn, kỹ thuật đã từng bước đi vào vùng trồng. Kết quả 10 tấn Cà gai leo khô đạt tiêu chuẩn cùng những kinh nghiệm rút ra từ 10 ha Sa nhân tím cho thấy KH&CN có vai trò xuyên suốt từ lựa chọn cây trồng, tổ chức sản xuất đến đánh giá chất lượng và khả năng nhân rộng.

Quan trọng hơn, mô hình giúp người dân khu vực nông thôn, gò đồi tiếp cận phương thức sản xuất dựa trên quy trình kỹ thuật thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm. Khi công nghệ phù hợp được chuyển giao và làm chủ tại chỗ, những vùng đất còn nhiều dư địa sản xuất có thêm cơ hội phát triển vùng nguyên liệu, đa dạng hóa cây trồng và mở hướng sinh kế cho bà con nông dân.