Công nghệ sinh học nâng hiệu quả sản xuất nông nghiệp Vĩnh Long
<p style="text-align: justify;">Từ nuôi cấy mô tạo cây giống, sử dụng nấm Trichoderma, vi khuẩn Bacillus trong quản lý sức khỏe cây trồng đến cải tạo giống vật nuôi và nghiên cứu dịch tễ, công nghệ sinh học đang được Vĩnh Long đưa vào nhiều khâu của sản xuất nông nghiệp. Những kết quả bước đầu tạo nền tảng để địa phương tiếp tục ứng dụng các công nghệ mới, nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và phát triển nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững.</p>
Đầu tháng 8, tại Hội thảo khoa học "Ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển bền vững tỉnh Vĩnh Long: Kết nối nghiên cứu, chuyển giao và đổi mới sáng tạo", nhiều kết quả nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học trên địa bàn đã được đánh giá, đồng thời đề xuất các hướng phát triển trong thời gian tới.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Vĩnh Long có không gian sinh thái đa dạng, từ vùng sản xuất nội đồng đến vùng nước lợ, cửa sông, ven biển, cùng nguồn lực khoa học và công nghệ được bổ sung. Đây là điều kiện để mở rộng ứng dụng công nghệ sinh học trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và xử lý môi trường.
Thực tế, nhiều nhiệm vụ khoa học và công nghệ liên quan đến công nghệ sinh học đã được triển khai tại địa phương. Một số kết quả đã đi vào sản xuất, nổi bật ở các lĩnh vực nhân giống cây trồng, quản lý sức khỏe cây trồng, sản xuất hữu cơ, cải tạo giống vật nuôi và phòng, chống dịch bệnh.
Từ nuôi cấy mô đến vi sinh vật có lợi
Một trong những kết quả đáng chú ý là công nghệ nuôi cấy mô tế bào đã được nghiên cứu, làm chủ và ứng dụng trong sản xuất cây giống tại Chợ Lách, Vĩnh Thành, Sơn Đông. Công nghệ này giúp tạo cây giống đồng đều, tỷ lệ sống cao, phát triển nhanh, góp phần chủ động nguồn giống và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Trong trồng trọt, các giải pháp sinh học từng bước được đưa vào sản xuất gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng nông sản và giảm tác động đến môi trường. Đến nay, 68,56 ha lúa và dừa đã đạt chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn EU và USDA.
Đáng chú ý, tỉnh đã triển khai 36 mô hình quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp trên diện tích 644,17 ha, ứng dụng nấm Trichoderma, vi khuẩn Bacillus và nấm xanh Ometar.
Qua triển khai, năng suất bình quân tăng khoảng 2 tấn/ha, lợi nhuận tăng khoảng 4 triệu đồng/ha. Những kết quả này cho thấy chế phẩm và vi sinh vật có lợi không chỉ dừng ở nghiên cứu, thử nghiệm mà đã được đưa vào các mô hình sản xuất với quy mô cụ thể, bước đầu mang lại hiệu quả về năng suất và kinh tế. Đây là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện, mở rộng các giải pháp sinh học phù hợp với từng nhóm cây trồng và điều kiện canh tác.

Từ tạo giống bằng nuôi cấy mô, công nghệ sinh học đang từng bước tham gia sâu hơn vào các khâu của sản xuất nông nghiệp tại Vĩnh Long.
Trong chăn nuôi, công nghệ sinh học được ứng dụng vào cải tạo giống và kiểm soát dịch bệnh, góp phần cải tạo, nâng cao 95% tầm vóc đàn bò vàng địa phương. Cùng với đó, nghiên cứu dịch tễ bệnh viêm da nổi cục được triển khai, phục vụ xây dựng bản đồ dịch tễ và chủ động các giải pháp phòng, chống dịch bệnh.
Từ tạo giống bằng nuôi cấy mô, đưa vi sinh vật có lợi vào đồng ruộng đến cải tạo đàn vật nuôi và nghiên cứu dịch tễ, công nghệ sinh học đang từng bước tham gia sâu hơn vào các khâu của sản xuất nông nghiệp tại Vĩnh Long.
Hướng tới chọn giống dựa trên dữ liệu hệ gen
Trên nền tảng những kết quả đã có, Vĩnh Long đang đặt vấn đề tiếp cận các công nghệ sinh học thế hệ mới, đặc biệt trong nghiên cứu, chọn tạo giống.
Theo Phó Chánh Văn phòng Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Võ Nhất Duy, sự phát triển của công nghệ sinh học, công nghệ giải trình tự thế hệ mới (Next Generation Sequencing - NGS), chỉnh sửa hệ gen CRISPR/Cas và tin sinh học (Bioinformatics) đang tạo ra bước chuyển từ phương pháp lai tạo, chọn lọc truyền thống sang khai thác dữ liệu hệ gen, góp phần nâng cao độ chính xác và hiệu quả chọn giống.
Từ lợi thế về các sản phẩm nông nghiệp của địa phương, ông Nguyễn Võ Nhất Duy đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu sinh học dùng chung và quy trình chọn giống dựa trên dữ liệu đối với các cây trồng chủ lực như lúa, dừa, bưởi, xoài, sầu riêng, chôm chôm, khoai lang và một số cây ăn trái đặc sản.
Trí tuệ nhân tạo, học máy cũng được đề xuất tích hợp trong phân tích dữ liệu hệ gen, xác định gen ứng viên, qua đó hỗ trợ rút ngắn thời gian và chi phí nghiên cứu. Hướng tiếp cận này mở rộng phạm vi ứng dụng từ các sản phẩm, quy trình công nghệ sinh học hiện có sang khai thác dữ liệu sinh học phục vụ chọn tạo giống có năng suất, chất lượng và khả năng thích ứng tốt hơn. Tuy nhiên, để công nghệ sinh học được ứng dụng rộng hơn, địa phương vẫn cần giải quyết những hạn chế về quy mô sản xuất, hạ tầng nghiên cứu, nguồn nhân lực chuyên sâu, sự tham gia của doanh nghiệp và khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long Ngô Văn Tán cho rằng, liên kết giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và nhà nông chưa thực sự khép kín; việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu và sự tham gia đầu tư của doanh nghiệp vào công nghệ sinh học còn hạn chế.
Do đó, cùng với nghiên cứu và làm chủ công nghệ, Vĩnh Long cần tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý, viện, trường, doanh nghiệp và người sản xuất; ưu tiên những giải pháp công nghệ sinh học có khả năng ứng dụng, chuyển giao, gắn với nhu cầu thị trường và chuyển đổi xanh.
Từ nuôi cấy mô, ứng dụng Trichoderma, Bacillus đến khai thác dữ liệu hệ gen, Vĩnh Long đang từng bước hình thành nền tảng ứng dụng công nghệ sinh học từ sản xuất đến nghiên cứu chuyên sâu. Việc kết nối chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu, chuyển giao và thị trường sẽ tạo điều kiện để các kết quả khoa học và công nghệ được nhân rộng, góp phần nâng cao giá trị nông sản và phát triển nông nghiệp bền vững.