Công nghệ sinh học và số hóa trong chăn nuôi lợn an toàn
<p style="text-align: justify;">Từ xây dựng khẩu phần thức ăn có cơ sở khoa học, bổ sung chế phẩm vi sinh đến quản lý đàn lợn bằng nhật ký điện tử và truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, Nghệ An đang hướng tới mô hình chăn nuôi kết hợp công nghệ sinh học với công nghệ số. Dự án đặt mục tiêu giảm tỷ lệ mắc bệnh, hạn chế sử dụng kháng sinh, giảm ô nhiễm chuồng trại và nâng cao hiệu quả sản xuất.</p>
Chăn nuôi lợn hiện chủ yếu theo hai phương thức: sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp tại các trang trại quy mô lớn hoặc tự phối trộn thức ăn theo kinh nghiệm ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Tuy nhiên, thực tế vẫn đặt ra những hạn chế như chi phí thức ăn cao và khẩu phần dinh dưỡng chưa tối ưu.
Từ yêu cầu này, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh "Ứng dụng công nghệ sinh học kết hợp nhật ký điện tử xây dựng mô hình chăn nuôi lợn an toàn sử dụng thức ăn tự phối trộn trên địa bàn tỉnh Nghệ An" được đề xuất nhằm xây dựng phương thức chăn nuôi kết hợp giữa dinh dưỡng, công nghệ sinh học và quản lý số.
Dự án đã được Hội đồng tư vấn tuyển chọn tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm xem xét tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. Đại diện nhóm thực hiện dự án từ Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Nghệ An đã trình bày trước Hội đồng về phương án kỹ thuật, tính khả thi và hiệu quả kinh tế - xã hội của mô hình.
Kết hợp dinh dưỡng với giải pháp vi sinh
ThS. Nguyễn Đình Tiến, đại diện nhóm thực hiện dự án cho biết, dự án hướng tới nâng cao hiệu quả chăn nuôi thông qua xây dựng khẩu phần dinh dưỡng có cơ sở khoa học, sử dụng chế phẩm vi sinh và ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất.
Thay vì phối trộn thức ăn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, nguồn nguyên liệu tại địa phương sẽ được sử dụng trên cơ sở khẩu phần phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của đàn lợn. Cách tiếp cận này vừa phát huy lợi thế nguồn nguyên liệu sẵn có, vừa hướng tới nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm chi phí đầu vào.
Trên nền thức ăn tự phối trộn, chế phẩm sinh học được bổ sung nhằm xây dựng quy trình chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học. Dự án đặt mục tiêu giảm 20-30% tỷ lệ mắc bệnh, giảm 40% lượng kháng sinh sử dụng và giảm trên 80% mùi hôi chuồng trại.
Các chỉ tiêu này tập trung vào những vấn đề trực tiếp của chăn nuôi lợn. Giảm tỷ lệ mắc bệnh giúp hạn chế rủi ro trong sản xuất; giảm sử dụng kháng sinh gắn với yêu cầu nâng cao an toàn thực phẩm; trong khi kiểm soát mùi hôi góp phần hạn chế tác động của hoạt động chăn nuôi đến môi trường.
Theo ThS. Nguyễn Đình Tiến, việc kết hợp công nghệ sinh học với hệ thống nhật ký điện tử hướng tới tạo ra sản phẩm thịt lợn an toàn, có khả năng truy xuất nguồn gốc, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng và an toàn thực phẩm. Đồng thời, mô hình góp phần tận dụng nguồn nguyên liệu địa phương, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm chi phí sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Số hóa quản lý, truy xuất nguồn gốc bằng mã QR
Cùng với giải pháp về dinh dưỡng và công nghệ sinh học, điểm đáng chú ý của dự án là đưa nhật ký điện tử vào quản lý quá trình chăn nuôi.

Trên nền thức ăn tự phối trộn, chế phẩm sinh học được bổ sung nhằm xây dựng quy trình chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học.
Mục tiêu đặt ra là 100% đàn lợn trong mô hình được truy xuất nguồn gốc bằng mã QR. Thông tin trong quá trình chăn nuôi được ghi nhận và quản lý trên nhật ký điện tử, tạo cơ sở theo dõi quy trình sản xuất và minh bạch nguồn gốc sản phẩm.
Như vậy, công nghệ sinh học và công nghệ số đảm nhiệm hai vai trò bổ trợ. Khẩu phần dinh dưỡng và chế phẩm sinh học tác động trực tiếp vào quá trình chăn nuôi, trong khi nhật ký điện tử hỗ trợ quản lý, theo dõi và truy xuất thông tin.
Dự án phấn đấu tạo ra khoảng 90-120 tấn thịt lợn thương phẩm mỗi năm, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và vệ sinh thú y.
ThS. Nguyễn Đình Tiến cho biết thêm, Dự án dự kiến triển khai trong giai đoạn 2026-2027, hướng tới xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện sản xuất, có khả năng ứng dụng tại các hộ chăn nuôi và hợp tác xã trên địa bàn Nghệ An.
Cùng với giải pháp về dinh dưỡng và công nghệ sinh học, việc kết hợp khẩu phần dinh dưỡng có cơ sở khoa học - chế phẩm vi sinh - nhật ký điện tử - truy xuất nguồn gốc tạo thành chuỗi giải pháp từ đầu vào, sức khỏe vật nuôi đến quản lý sản xuất và sản phẩm đầu ra. Nếu các chỉ tiêu được kiểm chứng trong thực tế, mô hình sẽ tạo thêm cơ sở để ứng dụng, chuyển giao và nhân rộng, góp phần đưa công nghệ sinh học gắn với chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề cụ thể của chăn nuôi lợn tại Nghệ An.