Cửa Ba Lạt và hành trình giải mã cấu trúc địa mạo ven biển
<p style="text-align: justify;">Công trình “Nghiên cứu diễn biến và dự báo xu thế biến động các địa hệ khu vực ven biển từ Cửa Ba Lạt đến Cửa Đáy từ Holocen đến nay” (mã số KC.09.02/16-20) của GS.TS.NGND Trần Nghi với những thành tựu khoa học mang tầm vóc học thuật lớn lao, tạo ra những tác động thiết thực, trở thành kim chỉ nam cho các chiến lược phát triển bền vững và bảo vệ sinh kế của cộng đồng.</p>
Vùng đất "không đứng yên" và thách thức từ tự nhiên
Cửa Ba Lạt - nơi dòng sông Hồng biểu tượng của miền Bắc Việt Nam mang theo phù sa bồi đắp hòa mình vào biển cả bao la không chỉ là hệ sinh thái phong phú mà còn là một "phòng thí nghiệm" về địa chất học, địa mạo học và hải dương học.

Bờ biển Hải Hậu bị xói lở nhà thờ Hải Hậu xây năm 1930 hiện nằm ở địa phận của biển ven bờ cách bờ biển hiện tại 2 km. (Ảnh: Sở KH&CN Nam Định).
Tại vùng giao thoa giữa sông và biển này, những biến động của quá trình bồi tụ và xói lở đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến hàng vạn người dân sinh sống ven bờ.
Đứng trước những thách thức sinh tồn và yêu cầu phát triển kinh tế thiết yếu ấy, các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về cửa sông Ba Lạt cùng các dải bờ biển lân cận đã được thực hiện và công bố rộng rãi.
Trải dài dọc theo bờ biển duyên hải Bắc Bộ, cửa Ba Lạt nổi tiếng với một hệ sinh thái đa dạng, bao gồm hệ thống bãi bồi, cồn cát, đầm phá và những cánh rừng ngập mặn rộng che chắn cho đất liền.
Điểm đặc biệt khiến vùng cửa biển này luôn nhận được sự quan tâm của giới khoa học chính là tính động liên tục của cảnh quan. Thiên nhiên nơi đây hiếm khi đứng yên, mà liên tục biến đổi theo các chu kỳ.
Theo các phân tích thủy văn, sông Hồng có lưu lượng nước lớn, mang theo một lượng phù sa phong phú cung cấp cho dải ven biển. Lưu lượng lớn nhất từng được ghi nhận lên tới 38.560 m3/s vào tháng 8 năm 1971.
Trong quá khứ, lượng vật liệu lơ lửng tập trung tại cửa Ba Lạt rất cao, tạo nên quá trình bồi tụ mạnh giúp hình thành các cồn cát lớn như cồn Vành, cồn Lu, cồn Ngạn và không ngừng mở rộng quỹ đất liền lấn ra biển.
Nghiên cứu lịch sử hình thành châu thổ Sông Hồng trong giai đoạn Holocen muộn, tác giả Trần Nghi đã phát hiện ra hiện tượng trái với quy luật tự nhiên, đó là:
Quá trình bồi tụ liên tục xẩy ra từ 5 ngàn năm BP đến năm 1787 khi có trận lũ lớn làm vỡ đê Sông Hồng. Giai đoạn này đồng bằng châu thổ Sông Hồng có hình rẽ quạt cân xứng đặc trưng cho một châu thổ bồi tụ mạnh.
Từ năm 1787 do trận lũ vỡ đê nên dòng chảy chính của Sông Hồng đang đổ về cửa Hà Lạn (Nam Định) bị lấp cạn thu hẹp lòng nên dòng chảy chính của Sông Hồng đổ về cửa Ba Lạt (Thái Bình). Giai đoạn này bờ biển phía Thái Bình và Ninh Bình bồi tụ mạnh còn bờ biển Nam Định bồi tụ rất yếu.
Từ năm 1960 đến nay, bờ biển bị phân hoá đột biến, tốc độ bồi tụ bờ biển Thái Bình giảm dần, bờ biển Ninh Bình tăng đột biến còn bờ biển Nam Định lại bị xói lở mạnh mỗi năm 19,5m. Đây chính là một bài toán hóc búa, đặt ra yêu cầu cấp bách phải nghiên cứu một cách bài bản, khoa học để tìm ra hướng giải quyết.
Khoa học giải bài toán hóc búa
Để giải bài toán phức tạp trên, hàng loạt công trình nghiên cứu đã được các nhà khoa học, chuyên gia địa chất và thủy văn nỗ lực triển khai. Trước đây, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào cách tiếp cận thủy văn, thủy lực nhằm làm rõ cơ chế xói lở để đưa ra các giải pháp phòng chống tức thời.
Tuy nhiên, để hiểu được ngọn nguồn vấn đề, các nhóm nghiên cứu hiện đại đã lựa chọn phương pháp tiếp cận địa chất - lịch sử mang tính toàn diện và có chiều sâu hơn.
Việc tìm hiểu cặn kẽ biến động đường bờ biển khu vực Giao Thủy, Hải Hậu trong thời kỳ cận đại đòi hỏi một khối lượng công việc khổng lồ, kết hợp giữa nhiều nguồn tư liệu thực địa và công nghệ hiện đại.
Các nhà khoa học không chỉ tiến hành khảo sát thực địa kỹ lưỡng tại khu vực cửa Hà Lạn và các xã ven biển Hải Hậu, khoan nông lấy mẫu trầm tích để phân tích, mà còn áp dụng sâu rộng công nghệ viễn thám. Việc phân tích các bức ảnh vệ tinh Landsat độ phân giải cao đã giúp tái hiện lại sự dịch chuyển của các dải bờ biển qua từng thập kỷ.
Bên cạnh đó, các nhà khoa học còn đi sâu vào các kho lưu trữ lịch sử, khai thác tối đa tư liệu địa chí địa phương, ghi chép về công cuộc khai hoang lấn biển, lược sử giáo xứ và gia phả các dòng họ.

Địa - hệ sinh thái từ 10-8 ka BP (Trần Nghi, 2018).
Với công trình "Nghiên cứu diễn biến và dự báo xu thế biến động các địa hệ khu vực ven biển từ Cửa Ba Lạt đến Cửa Đáy từ Holocen đến nay" (mã số KC.09.02/16-20), các nhà khoa học đã giải mã thành công nguyên nhân sâu xa của hiện tượng xói lở. Các nghiên cứu đã xác định được nguyên nhân xói lở bờ biển Hải Hậu (Nam Định), tốc độ bồi tụ mạnh (100m/năm) cửa đáy là do đắp đập sông Sò.
Các nhà nghiên cứu cũng áp dụng xuất sắc khái niệm "Địa - hệ sinh thái" vào đới bờ kéo dài từ cửa Ba Lạt đến cửa Đáy, giúp phác họa rõ nét mối tương tác 2 chiều giữa cấu trúc địa chất, thủy động lực học và hệ sinh thái sinh vật.
Tác động đến đời sống xã hội và kinh tế địa phương
Giá trị cốt lõi của công trình nghiên cứu về cửa biển Ba Lạt đã thực sự đi vào thực tiễn đời sống, mang lại những tác động đến định hướng quy hoạch phát triển của toàn vùng châu thổ sông Hồng.
Thứ nhất, về mặt an toàn dân sinh và thích ứng với biến đổi khí hậu, các kết quả khoa học đã cung cấp hệ thống luận cứ vững chắc để thiết kế, nâng cấp và củng cố toàn bộ hệ thống đê biển Nam Định.
Nhờ hiểu rõ cơ chế xói lở, các cơ quan chức năng đã chủ động chuyển từ việc chống đỡ bị động sang chiến lược quy hoạch không gian phòng hộ một cách khoa học.
Từ nghiên cứu đã giúp thiết lập các công trình thân thiện với môi trường, bảo vệ trực tiếp tính mạng, tài sản và sinh kế cho hàng chục ngàn hộ dân đang sinh sống ven bờ.
Thứ hai, trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và khai thác tài nguyên, việc nắm bắt chu kỳ bồi tụ trong nhiều thập kỷ qua ở khu vực cửa Ba Lạt đã mở ra tiềm năng cho gia tăng quỹ đất.
Các dải đất mới nổi được kiểm soát chặt chẽ để phát triển mô hình nuôi trồng thủy sản sinh thái, khai thác vật liệu xây dựng và mở rộng không gian nông nghiệp mà không làm ảnh hưởng môi trường trầm tích tự nhiên.
Thứ ba, các nền tảng kiến thức này giúp định hình chiến lược du lịch trải nghiệm mang tính bền vững cao.
Khu vực cửa Ba Lạt, gắn liền với Vườn quốc gia Xuân Thủy ở ngay bên cạnh, hiện đang được tỉnh quy hoạch nhằm trở thành một điểm đến trải nghiệm chất lượng cao và hình thành chuỗi dịch vụ đặc trưng.
Tính "động" của cảnh quan thiên nhiên và bề dày lịch sử địa chất nơi đây đã được chuyển hóa thành tài nguyên du lịch độc đáo để thu hút du khách, mở rộng thị trường khách gia đình, học sinh và các hoạt động nghiên cứu học thuật.
Sự phát triển của du lịch sinh thái không chỉ mang lại nguồn lợi kinh tế đa dạng cho địa phương mà còn trực tiếp nâng cao ý thức bảo tồn rừng ngập mặn của cả cộng đồng.
Công trình đặc biệt xuất sắc
(1) Xây dựng một khái niệm mới về "Đia - hệ sinh thái"
"Địa - hệ sinh thái là một hệ thống tự nhiên tồn tại mọi nơi trên bề mặt vỏ Trái Đất được cấu thành bởi 2 hợp phần cơ bản: địa chất trầm tích và hệ sinh thái; chúng có mối quan hệ nhân - quả với nhau và liên tục biến đổi theo thời gian địa chất"
(2) Ứng dụng địa - hệ sinh thái và địa tầng phân tập đã chứng minh được sông Hồng đổi dòng từ đổ ra cửa Hà Lạn (Nam Định) sang cửa Ba Lạt (Thái Bình) năm 1787 do cơn lũ vỡ đê.
(3) Xác định được nguyên nhân xói lở bờ biển Hải Hậu (Nam Định), tốc độ bồi tụ mạnh (100m/năm) cửa đáy là do đắp đập sông Sò.
Công trình có giá trị khoa học cao
Đới bờ có thể phân biệt được các đia - hệ sinh thái như sau:
1. Trong pha biển tiến Holocen sớm-giữa (10-5ka BP): Địa-hệ sinh thái: Bùn sét hệ sinh thái vũng vịnh.
2. Trong pha biển thoái Holocen muộn (5-1ka BP):
- Địa - hệ sinh thái: Bãi triều đầm lầy - rừng ngập mặn ven biển;
- Địa - hệ sinh thái: Bãi triều cát mịn- hệ sinh thái động vật thân mềm;
- Địa - hệ sinh thái: Bãi bồi bùn cát đồng bằng châu thổ cao - hệ sinh thái trồng lúa và rau củ.
Quá trình nghiên cứu, khảo sát và giải mã những bí ẩn địa mạo tại khu vực cửa biển Ba Lạt đã minh chứng sống động cho sự gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản và khả năng ứng dụng thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày.
Công trình đã có những đóng góp quan trọng cả về lý thuyết và thực tiễn. Những thành tựu này góp phần cho công tác bảo vệ bờ biển, bảo vệ sinh kế của con người trước quy luật khắc nghiệt của thiên nhiên, bảo tồn bền vững những giá trị vô giá mà dòng sông Hồng đã chắt chiu ban tặng.