Cụm công trình “Địa chất Trầm tích Việt Nam” và khát vọng giải mã lịch sử vỏ trái đất

<p>Hơn 40 năm miệt mài nghiên cứu, GS.TS.NGND Trần Nghi cùng các cộng sự đã đúc kết nên Cụm công trình “Địa chất Trầm tích Việt Nam - Lý luận và Thực tiễn”. Cụm công trình đánh dấu sự trỗi dậy của Trầm tích học Việt Nam trên trường quốc tế, và mang lại những giá trị về chủ quyền biển đảo, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường”. Cụm công trình đang được đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ đợt 7.</p>

Cụm công trình là sự hội tụ tinh hoa từ 5 công trình chọn lọc đặc biệt xuất sắc về địa chất trầm tích trong số hàng chục các đề tài và dự án nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học Trái Đất. 

Cụm công trình nghiên cứu cốt lõi, trải rộng từ đất liền ra thềm lục địa, từ những kỷ nguyên địa chất hàng trăm triệu năm trước cho đến những biến động đới bờ hiện tại. 

Giá trị của Cụm công trình không chỉ nằm ở những trang sách hàn lâm, mà đã được hiện thực hóa thành những lợi ích thiết thực cho quốc kế dân sinh.

Cụm công trình “Địa chất Trầm tích Việt Nam” và khát vọng giải mã lịch sử vỏ trái đất- Ảnh 1.

Cuốn sách "Địa chất trầm tích Việt Nam" của GS.TS.NGND Trần Nghi đã giới thiệu những kết quả nghiên cứu chọn lọc của tác giả hơn 40 năm trở lại đây.

Cụm công trình "Địa chất trầm tích Việt Nam - Lý luận và Thực tiễn", gồm 5 công trình:

1) Trần Nghi (chủ trì) và nnk., 2003. Di sản Thiên nhiên Thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng Quảng Bình Việt Nam. NXB Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam.

2) Trần Nghi (chủ biên), 2009. Bản đồ địa chất, tỷ lệ 1/4000.000. NXB KHTN&CN -VAST.

3.1) Trần Nghi, 2017. Địa chất Trầm tích Việt Nam. NXB ĐHQGHN (510tr.).

3.2) Tran Nghi, 2022. Sedimentary Geology of Vietnam. Vietnam National University Press, Hanoi, 4/2022; (544p).

4.1) Trần Nghi (chủ biên - tác giả chính) và nnk., 2019. Atlas Trầm tích Việt Nam. NXB ĐHQGHN (1000tr.).

4.2) Tran Nghi (author in chief) et al., 2023. Atlas of Sedimentary rocks of Vietnam. Vietnam National University Press, Hanoi, 4/2022; (999p).

5) Trần Nghi (chủ nhiệm) và nnk., 2020. Đề tài KC-09-02/16-20. Nghiên cứu diễn biến và dự báo xu thể biến động các địa hệ khu vực ven biển từ cửa Ba Lạt đến cửa Đáy từ Holocen đến nay (450 trang).

Tấm vé vớt lịch sử cho Di sản Phong Nha - Kẻ Bàng

Ít ai biết, hành trình để Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới từng đối mặt với thất bại. Năm 1998, hồ sơ do Việt Nam đệ trình đã không được UNESCO thông qua.

Đứng trước nguy cơ lỡ hẹn với thế giới, GS. Trần Nghi và nhóm nghiên cứu từ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã vào cuộc. Bằng việc thay đổi tư duy, chuyển từ phương pháp "Địa mạo Karst" truyền thống sang "Địa chất Karst", nhóm nghiên cứu đã chứng minh xuất sắc 4 tiêu chí khắt khe của UNESCO. 

Nghiên cứu đã chứng minh lịch sử phát triển vỏ Trái Đất khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng là lâu dài và mang tính toàn cầu, trải dài 400 triệu năm, giải mã cơ chế kiến tạo hình thành hệ thống hang động đa dạng. Đặc biệt, công trình đã chứng minh lịch sử địa chất trầm tích ngoại sinh hình thành thạch nhũ, măng đá và travertin đã xuất hiện ngay sau khi hang động đầu tiên được hình thành, khẳng định tuổi cổ nhất của hang động Phong Nha - Kẻ Bàng lên tới 32 triệu năm (cổ nhất Đông Nam Á). Qua nhiều thời kỳ kế thừa và thay thế nhau tạo nên sự đa dạng các phong cảnh đẹp kỳ vĩ của hang động.

Tháng 7/2003, Phong Nha - Kẻ Bàng chính thức được vinh danh. Từ doanh thu chỉ vỏn vẹn 2 tỷ đồng/năm trước đó, ngành du lịch Quảng Bình đã bứt phá ngoạn mục, chạm mốc hàng trăm tỷ đồng mỗi năm, biến nơi đây thành "vương quốc hang động" rực sáng trên bản đồ du lịch toàn cầu.

Khẳng định chủ quyền biển đảo bằng lát cắt địa chất

Không dừng lại ở đất liền, Cụm công trình còn vươn tầm ra biển lớn với Bản đồ địa chất, tỷ lệ 1/4.000.000 (công bố năm 2009). 

Bản đồ địa chất, tỷ lệ 1/4.000.000 được biên tập và xuất bản từ Bản đồ địa chất Biển Đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1/1000.000 là sản phẩm chính của đề tài KC.09.23/06-10 do Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển nay là Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên - môi trường biển, khu vực Phía bắc trực thuộc Cục Biển và Hải đảo Việt Nam là cơ quan chủ trì, GS.TS. Trần Nghi làm chủ nhiệm đề tài và chủ biên bản đồ. Lần đầu tiên, Việt Nam có một bản đồ nền địa chất biển được thành lập theo nguyên tắc đổi mới sáng tạo chồng chập theo phương pháp chiếu thẳng đứng các đơn vị địa tầng từ dưới lên trên.

Bản đồ này mang một thông điệp địa chính trị sắc bén: Cấu trúc địa chất thềm lục địa Việt Nam là một khối liên tục từ mốc 0m hải đồ đến ranh giới ngoài thềm lục địa, đồng thời khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam. Chứng minh thềm lục địa Việt Nam có cấu trúc địa chất liên tục, Trường Sa và Hoàng Sa là hai bộ phận của thềm lục địa Việt Nam bị tách giãn. Về mặt kinh tế, đây là kim chỉ nam cho công tác quy hoạch không gian biển, phân định các bể dầu khí và tìm kiếm khoáng sản.

Cụm công trình là sản phẩm kế thừa và đổi mới sáng tạo các kết quả đã nghiên cứu từ trước những năm 1999 đến năm 2023 trên nhiều lĩnh vực:

(1) Địa chất trầm tích dầu khí, địa chất trầm tích biển, địa chất trầm tích Đệ tứ phần đất liền và biển, địa chất trầm tích di sản. Các công trình đều là các nhiệm vụ chiến lược hết sức cấp thiết cả lý thuyết và thực tiễn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt kinh tế biển, kinh tế du lịch và khai thác dầu khí;

(2) Lần đầu tiên bản đồ nền về địa chất biển được thành lập theo một nguyên tắc đổi mới sáng tạo. Đó là cơ sở khoa học cho công tác điều tra cơ bản, quy hoạch tổng thể không gian biển; quản lý và phát triển kinh tế biển và kinh tế du lịch một cách bền vững góp phần bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển và hải đảo của Tổ quốc.

Lời giải cho bài toán xói lở bờ biển

Bên cạnh những phát kiến vĩ mô, Cụm công trình còn đi sâu vào giải quyết những nỗi đau hiện hữu của tự nhiên. Thông qua công trình nghiên cứu diễn biến đới bờ từ cửa Ba Lạt đến cửa Đáy, các nhà khoa học đã tìm ra nguyên nhân gốc rễ của tình trạng xói lở dữ dội tại bờ biển Hải Hậu (Nam Định) - nơi nước biển nuốt chửng hàng chục mét đất mỗi năm.

Áp dụng khái niệm mới "Địa - hệ sinh thái" và phân tích các chu kỳ trầm tích, GS. Trần Nghi đã chứng minh sự thay đổi dòng chảy lịch sử của Sông Hồng (năm 1787) và hệ lụy tàn khốc của việc đắp đập Sông Sò (1960) đã khiến bờ biển Nam Định rơi vào tình trạng "đói" phù sa trầm trọng. Từ đó, những giải pháp thuận thiên mang tính chiến lược như phá đập Sông Sò, khơi thông dòng chảy hay xây dựng đê chắn sóng (tombolo) nhân tạo đã được đề xuất nhằm cứu lấy dải đất ven biển.

Tầm vóc học thuật quốc tế

Giá trị của cụm công trình nằm ở hai bộ sách đồ sộ: Chuyên khảo Địa chất Trầm tích Việt Nam và Atlas Trầm tích Việt Nam (đều được xuất bản bằng tiếng Việt và tiếng Anh). Với hàng ngàn trang sách, hàng ngàn hình ảnh vi phẫu thạch học và các mô hình lý thuyết đột phá (như Mô hình Địa tầng phân tập Trần Nghi 2010), Cụm công trình được ví như bộ "từ điển sống" của ngành địa chất.

Cụm công trình “Địa chất Trầm tích Việt Nam” và khát vọng giải mã lịch sử vỏ trái đất- Ảnh 2.

GS.TS. Trần Nghi bên cạnh khối thạch nhũ cổ trong động Phong Nha, Quảng Bình. (Ảnh: Vietnamhoinhap.vn).

Sự sáng tạo của GS. Trần Nghi đã xóa bỏ sự phụ thuộc vào các mô hình phương Tây. Giáo sư Anna Wysocka (Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan) và Giáo sư Renat Shakirov (Viện Hàn lâm Khoa học Nga) đều nhất trí đánh giá: Công trình "Địa chất Trầm tích Việt Nam - Lý luận và Thực tiễn" không chỉ giải quyết các bài toán đặc thù của Việt Nam mà còn cống hiến những công thức, nguyên lý định lượng làm phong phú thêm cho Trầm tích học thế giới.

"Địa chất Trầm tích Việt Nam - Lý luận và Thực tiễn" không chỉ là di sản học thuật của một đời người, mà còn là một bản hùng ca định vị trí tuệ Việt, khẳng định chủ quyền quốc gia và mở ra những chân trời mới cho công cuộc khai thác, bảo vệ bền vững tài nguyên của đất nước.