Đánh thức giá trị dược liệu Tây Nguyên bằng khoa học và công nghệ
<p style="text-align: justify;">Cụm công trình "Nghiên cứu các giải pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân và bộ đội vùng Tây Nguyên" đã nghiên cứu, phát triển một số sản phẩm có thành phần dược liệu, góp phần kết nối kết quả nghiên cứu khoa học với nguồn nguyên liệu tại địa phương và mở ra hướng nâng cao giá trị dược liệu Tây Nguyên.</p>

Cây Sâm Ngọc Linh mang trong mình nhiều giá trị dành cho sức khỏe người sử dụng
Từ nguồn dược liệu địa phương đến các sản phẩm chăm sóc sức khỏe
Những năm qua, Tây Nguyên đạt được nhiều kết quả trong xây dựng mạng lưới y tế cơ sở, kiểm soát dịch bệnh truyền nhiễm và từng bước nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn về nhân lực, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế và chất lượng dịch vụ, đặc biệt là tại các vùng sâu, vùng xa.
Trước thực trạng đó, các nhà khoa học tại Học viện Quân y đã phối hợp với các nhà khoa học tại Đại học Y tế công cộng và Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên thực hiện Cụm công trình "Nghiên cứu các giải pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân và bộ đội vùng Tây Nguyên".
Cụm công trình gồm 3 đề tài cấp Nhà nước, hướng tới nâng cao sức khỏe người dân và hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế, đặc biệt tại khu vực biên giới.
Theo tư liệu nghiên cứu, Tây Nguyên có nguồn dược liệu đa dạng, trong đó có đảng sâm, sâm Ngọc Linh, nghệ vàng, sa nhân tím, gấc, gừng và sả... Bên cạnh dược liệu bản địa, những cây thuốc di thực từ các nước đã được nghiên cứu trồng tại địa phương, tạo nguồn nguyên liệu đa dạng phục vụ nghiên cứu và phát triển sản phẩm.
Từ nguồn nguyên liệu trên, Cụm công trình đã nghiên cứu để sản xuất một số sản phẩm như trà túi lọc CynaKontum, trà túi lọc CraKontum và các viên nang Kardi Q10, Craton, Coolsun. Mỗi sản phẩm có thành phần riêng, được phối hợp theo định hướng sử dụng khác nhau.
Trà túi lọc CraKontum có thành phần gồm hoa hòe, đương quy, đan sâm và đỏ ngọn. Sản phẩm có tác dụng󠆰 điều trị thiểu năng󠆰 tuần hoàn não, giảm hiện tượng󠆰 xơ vữa động mạch.
Các dược liệu được sử dụng cho sản phẩm trên có trữ lượng tương đối lớn ở khu vực Tây Nguyên. Điển hình là đương quy khoảng 15.000 kg/năm, đỏ ngọn khoảng 10.000–15.000 kg/năm và đan sâm khoảng 6.500 kg/năm tại Lâm Đồng; hoa hòe phân bố chủ yếu ở Đắk Nông và Đắk Lắk.
Trà túi lọc CynaKontum được phối hợp từ actisô, diệp hạ châu, cà gai leo, nhân trần và cỏ ngọt, hướng tới hỗ trợ giải độc và bảo vệ gan.
Theo tư liệu, actisô được trồng nhiều tại Đà Lạt, có trữ lượng khoảng 32.000 kg/năm/ha. Diệp hạ châu và cỏ ngọt cũng có nguồn cung tương đối lớn khoảng 20.000 kg/năm, trồng tại Lâm Đồng; nhân trần có sản lượng khoảng 2.000 kg/năm và đang được đẩy mạnh nhân giống cây trồng.
Bên cạnh các sản phẩm trà túi lọc, Cụm công trình còn nghiên cứu phát triển các sản phẩm dạng viên nang.
Viên nang Kardi Q10 có thành phần bột cao khô tỏi đen, cao khô lá sen và coenzyme Q10 fumarat. Theo báo cáo, sản phẩm được nghiên cứu hướng tới các vấn đề sức khỏe liên quan đến béo phì và tim mạch.
Viên nang Craton gồm địa long, trần bì, rau ngót, đậu đen, đương quy, hoàng kỳ và đan sâm. Báo cáo xác định sản phẩm theo hướng dự phòng đột quỵ. Trong số các thành phần, đương quy có trữ lượng được nêu khoảng 15.000 kg/năm, địa long khoảng 10.000–15.000 kg/năm, đan sâm khoảng 6.500 kg/năm và hoàng kỳ khoảng 4.000 kg/năm; rau ngót và đậu đen được trồng phổ biến tại Tây Nguyên.
Một sản phẩm khác là viên nang Coolsun, có thành phần thạch cao, tri mẫu, cam thảo, đan sâm, nhân sâm, ngạnh mễ và sinh địa, với nguồn gốc bài thuốc "Bạch hổ nhân sâm".
Theo tư liệu nghiên cứu, sản phẩm hướng tới dự phòng say nóng. Báo cáo cũng nêu nguồn cung một số dược liệu tại khu vực, trong đó tri mẫu có trữ lượng khoảng 10.000–15.000 kg/năm và đan sâm khoảng 6.500 kg/năm tại Lâm Đồng.

Cây ac ti sô được trồng nhiều ở khu vực Đà Lạt
Gắn nghiên cứu khoa học với phát triển nguồn dược liệu
Việc nghiên cứu phát triển các sản phẩm từ dược liệu địa phương cho thấy khả năng kết nối giữa hoạt động khoa học và nguồn tài nguyên sẵn có tại Tây Nguyên. Thay vì chỉ khai thác dược liệu dưới dạng nguyên liệu thô, việc nghiên cứu phối hợp thành phần và phát triển sản phẩm tạo thêm hướng nâng cao giá trị nguồn nguyên liệu, đồng thời phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Cùng với các chương trình, dự án được triển khai tại khu vực, kết quả nghiên cứu của Cụm công trình góp phần làm rõ tiềm năng phát triển một số loại dược liệu, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu giống, phát triển vùng trồng tập trung và đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất. Đây cũng là hướng có thể gắn với đa dạng hóa sinh kế, phát triển kinh tế địa phương và khai thác hợp lý lợi thế sinh thái của Tây Nguyên.
Để phát huy giá trị các kết quả nghiên cứu, việc phát triển vùng trồng cần đi đôi với bảo đảm chất lượng dược liệu, kiểm soát quy trình sản xuất và đánh giá sản phẩm. Những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an toàn, nâng cao độ tin cậy và tạo điều kiện để sản phẩm từ dược liệu phát triển lâu dài.
Từ nghiên cứu thành phần dược liệu đến phát triển các sản phẩm cụ thể, Cụm công trình cho thấy vai trò của khoa học và công nghệ trong khai thác tiềm năng nguyên liệu bản địa, gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn và góp phần phát triển nguồn dược liệu tại Tây Nguyên.