Đề xuất giải pháp tích trữ nước ngọt thích ứng với biến đổi khí hậu cho Đồng bằng sông Cửu Long
<p style="text-align: justify;">Trong bối cảnh hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt ngày càng diễn biến phức tạp tại Đồng bằng sông Cửu Long, việc chủ động tích trữ nước được xem là một trong những giải pháp quan trọng để bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển bền vững vùng. Từ yêu cầu thực tiễn đó, các nhà khoa học đã xây dựng cơ sở dữ liệu, đề xuất hệ thống giải pháp và thiết kế các mô hình tích trữ nước ngọt phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái, tạo thêm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch và quản lý tài nguyên nước.</p>
Đây là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia "Nghiên cứu đề xuất giải pháp tích trữ nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long", mã số ĐTĐL.CN-37/22, do PGS.TS. Lê Văn Chín làm chủ nhiệm, Trường Đại học Thủy lợi chủ trì thực hiện từ tháng 12/2022 đến tháng 11/2025.
Nhiệm vụ hướng tới đánh giá hiện trạng nguồn nước và khả năng cấp nước ngọt cho các ngành kinh tế - xã hội; đề xuất các giải pháp tích trữ nước phù hợp và thiết kế ba mô hình tích trữ nước điển hình cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

PGS.TS. Lê Văn Chín - Chủ nhiệm đề tài thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày tóm tắt các nội dung nghiên cứu và kết quả của đề tài.
Theo báo cáo tự đánh giá, nhóm nghiên cứu đã hoàn thành đầy đủ các sản phẩm theo thuyết minh. Nhiệm vụ đã xây dựng báo cáo đánh giá hiện trạng và xu thế nguồn nước, khả năng cấp nước ngọt cho các ngành kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long; báo cáo phân vùng cấp nước và phân vùng thiếu nước; báo cáo phân loại và đánh giá các giải pháp tích trữ nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng quy trình tích trữ nước ngọt ở các tiểu vùng thuộc Đồng bằng sông Cửu Long; hoàn thiện hướng dẫn thiết kế, quản lý, vận hành các loại hình công trình tích trữ nước; đồng thời thiết kế ba mô hình tích trữ nước điển hình cho vùng Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau.
Nhóm nghiên cứu cũng công bố 5 bài báo khoa học, biên soạn 2 sách chuyên khảo và đào tạo 2 thạc sĩ, 1 nghiên cứu sinh.
Một trong những kết quả nổi bật của nhiệm vụ là xây dựng bộ số liệu về diễn biến nguồn nước, nhu cầu sử dụng nước và khả năng cấp nước cho các ngành kinh tế trong giai đoạn hiện trạng và đến năm 2030. Bộ dữ liệu này là cơ sở phục vụ các cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn và địa phương trong quá trình quy hoạch, thiết kế các công trình tích trữ nước ngọt và các công trình thủy lợi khác.
Nhóm nghiên cứu cũng đã hệ thống hóa và phân loại các loại hình công trình tích trữ nước ngọt của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm hồ chứa nhân tạo, ao trữ, kênh trữ, đập dâng kết hợp trữ nước và các mô hình tích trữ kết hợp sinh thái. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ xây dựng bộ tiêu chí lựa chọn giải pháp tích trữ nước phù hợp với từng vùng và tiểu vùng sinh thái, góp phần chuẩn hóa phương pháp đánh giá và lựa chọn giải pháp trong thực tiễn. Đồng thời, cơ sở dữ liệu khoa học về tài nguyên nước mặt và hiện trạng các công trình tích trữ nước cũng được xây dựng nhằm hỗ trợ quy hoạch tài nguyên nước tổng hợp và ra quyết định trong điều kiện nguồn nước ngày càng khan hiếm.
Đáng chú ý, nhiệm vụ đã đề xuất và thiết kế ba mô hình tích trữ nước ngọt điển hình tại Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau. Các mô hình được xây dựng nhằm giảm thiểu tác động của hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn, đồng thời phục vụ phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng thích ứng với biến đổi khí hậu và Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, kết quả của nhiệm vụ là nguồn tài liệu quan trọng để các địa phương xây dựng kế hoạch đầu tư, lựa chọn giải pháp và triển khai các công trình tích trữ nước ngọt phân tán phù hợp với điều kiện từng khu vực. Các hướng dẫn kỹ thuật về thiết kế, quản lý và vận hành công trình cũng giúp nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng nguồn nước, đồng thời tạo cơ sở cho các đơn vị tư vấn áp dụng trong thực tiễn.
Báo cáo cho thấy, các kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bổ sung luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chính sách và quy hoạch phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long mà còn hỗ trợ quá trình ra quyết định của các cấp quản lý trong ứng phó với hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn.
Việc hình thành các giải pháp tích trữ nước ngọt phù hợp với điều kiện từng tiểu vùng được kỳ vọng sẽ góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, giảm xung đột trong khai thác, sử dụng nước và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu.