Điện Biên tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ các chương trình mục tiêu quốc gia
<p>Với 350 dự án, mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất, tổng kinh phí hơn 1.014 tỷ đồng và sự tham gia của 11.625 lượt hộ gia đình, Điện Biên đang từng bước đưa nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia vào thực tiễn, tạo sinh kế, nâng cao năng lực sản xuất và cải thiện đời sống đồng bào dân tộc thiểu số.</p>
Từ nguồn lực đầu tư đến những mô hình sản xuất cụ thể
Là tỉnh miền núi biên giới với địa hình chia cắt, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, Điện Biên xác định phát triển sản xuất, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân là những nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc giảm nghèo bền vững. Trong đó, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn lực, hỗ trợ người dân từng bước phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương.
Theo báo cáo của các cơ quan chuyên môn tỉnh Điện Biên, từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 và nguồn vốn chuyển sang năm 2026, toàn tỉnh đã phê duyệt, triển khai 350 dự án, mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất. Tổng kinh phí thực hiện đạt hơn 1.014,8 tỷ đồng, với sự tham gia của 11.625 lượt hộ gia đình.
Đáng chú ý, ngân sách Nhà nước hỗ trợ hơn 334,8 tỷ đồng, chiếm khoảng 33% tổng kinh phí; trong khi nguồn vốn đối ứng của người dân, doanh nghiệp và hợp tác xã đạt hơn 680 tỷ đồng, tương đương 67%.
Tỷ trọng vốn đối ứng cho thấy nguồn lực Nhà nước không chỉ được sử dụng để hỗ trợ trực tiếp mà còn góp phần huy động thêm nguồn lực xã hội, tạo điều kiện để người dân và các chủ thể kinh tế cùng tham gia phát triển sản xuất.
Về phương thức triển khai, trong tổng số 350 dự án, mô hình có 257 dự án thực hiện theo hình thức liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị và 93 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cộng đồng. Cách tiếp cận này hướng tới việc tổ chức sản xuất có quy mô, tăng cường hợp tác giữa các hộ dân và từng bước gắn sản xuất với nhu cầu của thị trường.
Thực tế triển khai tại địa phương cho thấy các dự án đã tập trung vào những cây trồng có lợi thế như cà-phê, mắc-ca cùng các sản phẩm nông nghiệp phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Công tác hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra thực địa được tăng cường; một số mô hình bước đầu góp phần hình thành vùng sản xuất tập trung, tạo sinh kế và nâng cao năng lực sản xuất cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số.
Những kết quả này cho thấy việc hỗ trợ sản xuất có ý nghĩa vượt ra ngoài giá trị đầu tư ban đầu. Khi người dân được tiếp cận kỹ thuật, tham gia tổ chức sản xuất và có cơ hội kết nối thị trường, khả năng chủ động phát triển kinh tế gia đình sẽ từng bước được nâng lên.
Bảo đảm hiệu quả đầu tư, hướng tới giảm nghèo bền vững
Dù đạt những kết quả bước đầu, hiệu quả lâu dài của các dự án hỗ trợ sản xuất vẫn phụ thuộc vào khả năng duy trì mô hình, tiêu thụ sản phẩm và tạo thu nhập ổn định cho người dân sau khi nguồn vốn hỗ trợ được giải ngân.
Đối với địa bàn miền núi, những khó khăn về giao thông, quy mô sản xuất nhỏ, trình độ kỹ thuật và khả năng tiếp cận thị trường có thể làm tăng chi phí sản xuất, hạn chế sức cạnh tranh của nông sản. Nếu thiếu doanh nghiệp đồng hành, thiếu hợp đồng tiêu thụ hoặc chưa xây dựng được thương hiệu, sản phẩm của người dân vẫn có nguy cơ gặp khó khăn khi đưa ra thị trường.
Tại hoạt động giám sát thực tế, Đoàn giám sát của Ban Dân tộc Hội đồng nhân dân tỉnh Điện Biên ghi nhận những kết quả tích cực trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn triển khai các dự án. Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả bền vững, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Điện Biên Bùi Minh Hải đề nghị các sở, ngành chuyên môn chủ động phối hợp với địa phương, nghiên cứu giải pháp kết nối và thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã có năng lực tham gia liên kết sản xuất, ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm ổn định cho người dân tại các vùng sản xuất.
Đây cũng là yêu cầu quan trọng để chuyển từ hỗ trợ đầu vào sang phát triển sinh kế lâu dài. Thay vì chỉ tập trung vào giống, vật tư hay kỹ thuật canh tác, các dự án cần được triển khai đồng bộ từ khâu lựa chọn sản phẩm, tổ chức sản xuất đến sơ chế, bảo quản, xây dựng thương hiệu và tìm kiếm đầu ra.
Bên cạnh đó, việc lựa chọn mô hình cần bám sát điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất và khả năng tham gia của người dân. Công tác kiểm tra, giám sát phải gắn với đánh giá kết quả thực chất như mức tăng thu nhập, khả năng duy trì sản xuất, số hộ thoát nghèo và mức độ tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Với Điện Biên, mục tiêu cuối cùng của các chương trình mục tiêu quốc gia không chỉ là hoàn thành số lượng dự án hay giải ngân nguồn vốn, mà quan trọng hơn là giúp người dân có việc làm, có thu nhập ổn định và từng bước chủ động vươn lên thoát nghèo.
Khi nguồn lực Nhà nước được kết nối hiệu quả với nguồn lực của người dân và doanh nghiệp, những mô hình sản xuất phù hợp có thể trở thành nền tảng để hình thành các vùng sản xuất hàng hóa, khai thác lợi thế địa phương và nâng cao chất lượng cuộc sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Đây chính là hướng đi có ý nghĩa lâu dài trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển và thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh Điện Biên.