Đưa sáng chế Việt vào sản xuất: Bài toán thị trường và giá trị thực tiễn

<p style="text-align: justify;">Nhắc đến những dây chuyền sản xuất gạch không nung đang vận hành tại nhiều địa phương, ít ai biết rằng đằng sau những sáng chế ấy là hành trình hơn 20 năm nghiên cứu, sáng tạo và chinh phục thị trường của một đội ngũ kỹ sư tại Việt Nam. Từ những thiết bị cơ khí ban đầu đến các dây chuyền được chuyển giao trong và ngoài nước là câu chuyện về sự kiên trì, khát vọng làm chủ công nghệ và nỗ lực đưa sáng chế vào cuộc sống.</p>

Hành trình của Công ty TNHH Hồ Hoàn Cầu tại Nghệ An, doanh nghiệp khoa học công nghệ này đã từng bước nghiên cứu, chế tạo và đưa dây chuyền công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng không nung vào ứng dụng thực tế. Những kết quả này được thể hiện qua Cụm sáng chế “Quy trình công nghệ và dây chuyền thiết bị sản xuất vật liệu xây dựng xanh Hồ Hoàn Cầu tại Việt Nam giai đoạn 2006-2026”, được Hội đồng chuyên ngành cấp Nhà nước đề nghị Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt 7.

Nhân dịp này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS. Hồ Xuân Vinh, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty TNHH Hồ Hoàn Cầu về kinh nghiệm thương mại hóa công nghệ, hiệu quả đối với các cơ sở sản xuất và những vấn đề đặt ra trong phát triển công nghệ xanh tại Việt Nam.

- Thưa ông, sau gần 20 năm phát triển và đưa công nghệ vào sản xuất, theo ông, điều gì quyết định để một sáng chế không chỉ được công nhận về mặt khoa học mà còn có thể tồn tại, phát triển và được thị trường đón nhận?

ThS. Hồ Xuân Vinh: Theo tôi, điều quan trọng nhất là sáng chế phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Một giải pháp kỹ thuật không chỉ cần mới mà còn phải mang lại hiệu quả kinh tế, phù hợp với khả năng đầu tư, dễ vận hành, dễ bảo trì và đủ sức cạnh tranh.

Trong quá trình nghiên cứu, phát triển thiết bị sản xuất vật liệu xây dựng xanh, chúng tôi luôn hướng đến những giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất tại Việt Nam, nhất là các hộ kinh doanh, cơ sở sản xuất nhỏ và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Công nghệ phải giúp người sử dụng giải quyết được vấn đề thực tế, tạo ra sản phẩm có chất lượng, có thị trường và đem lại hiệu quả kinh tế.

Một sáng chế chỉ thực sự phát huy hết giá trị khi được chế tạo thành sản phẩm, được người sử dụng chấp nhận, tạo ra hiệu quả kinh tế và tiếp tục phát triển trên thị trường.

Với Hồ Hoàn Cầu, mỗi thế hệ thiết bị đều được hoàn thiện qua quá trình thiết kế, chế tạo, thử nghiệm và tiếp nhận phản hồi của người sử dụng. 

Nếu sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng hoặc chi phí, chúng tôi tiếp tục cải tiến. 

Chính quá trình thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, ứng dụng, đánh giá và cải tiến liên tục đã giúp công trình phát triển thành hệ thống 33 sản phẩm, thiết bị và dây chuyền công nghệ như hiện nay.

Đưa sáng chế Việt vào sản xuất: Bài toán thị trường và giá trị thực tiễn- Ảnh 1.

TThS. Hồ Xuân Vinh, đồng tác giả Cụm sáng chế Quy trình công nghệ và dây chuyền thiết bị sản xuất vật liệu xây dựng xanh Hồ Hoàn Cầu tại Việt Nam giai đoạn 2006-2026.

- Trong giai đoạn đầu đưa các thiết bị sản xuất gạch không nung ra thị trường, nhóm tác giả đã gặp những khó khăn gì khi thuyết phục các cơ sở sản xuất thay đổi công nghệ, thưa ông?

ThS. Hồ Xuân Vinh: Khó khăn lớn nhất trong giai đoạn đầu không chỉ là chế tạo được chiếc máy, mà còn là thay đổi thói quen sản xuất và tiêu dùng đã tồn tại từ lâu. Khi đó, gạch đất sét nung đã ăn sâu vào nhận thức của người dân. 

Gạch không nung là sản phẩm mới, nên nhiều người còn e ngại về chất lượng, độ bền và khả năng sử dụng trong xây dựng. Có giai đoạn, chúng tôi phải lập xưởng để trực tiếp sản xuất gạch, vừa bán, vừa cho tặng để người dân trải nghiệm.

Doanh nghiệp gần như phải đồng thời nghiên cứu công nghệ và gây dựng thị trường. Khi những cơ sở đầu tiên sản xuất hiệu quả, chính họ trở thành minh chứng thuyết phục đối với khách hàng mới. 

Từ thực tế đó, chúng tôi nhận ra rằng chuyển giao công nghệ không đơn giản là bán một chiếc máy, mà còn phải giúp người sử dụng hiểu sản phẩm và tin vào hiệu quả của nó.

- Ông có thể chia sẻ một mô hình ứng dụng tiêu biểu cho thấy tác động của công nghệ đối với sản xuất và sinh kế địa phương?

ThS. Hồ Xuân Vinh: Quỳnh Văn, Nghệ An, là một ví dụ. Ở giai đoạn cao điểm, địa phương có khoảng 250 cơ sở sản xuất gạch không nung, tạo việc làm cho khoảng 1.000 lao động. 

Phía sau nhiều cơ sở là một hộ gia đình tự đầu tư, tổ chức sản xuất và tìm đầu ra. Sản phẩm không chỉ phục vụ nhu cầu tại chỗ mà còn được tiêu thụ ở nhiều tỉnh Bắc Trung Bộ.

Điều có ý nghĩa là người dân không nhất thiết phải đầu tư nhà máy lớn mới có thể tham gia sản xuất vật liệu xây dựng. Thiết bị phù hợp giúp họ từng bước cơ giới hóa, tạo việc làm ngay tại quê hương. 

Theo báo cáo của chúng tôi, mạng lưới ứng dụng công nghệ đã vượt 1.000 cơ sở sản xuất, với hơn 1.000 thiết bị và dây chuyền được triển khai tích lũy. 

Công nghệ cũng đã được chuyển giao sang Lào và Campuchia. Đối với từng cơ sở, hiệu quả kinh tế cụ thể phụ thuộc vào mức đầu tư, nguồn nguyên liệu, công suất vận hành, chi phí sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm.

Điều chúng tôi hướng đến không chỉ là bán được nhiều thiết bị, mà là tạo ra những giải pháp giúp các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ có thể tiếp cận công nghệ, tự tổ chức sản xuất, tạo thu nhập và phát triển thành những đơn vị kinh doanh bền vững. 

Với chúng tôi, một trong những kết quả có ý nghĩa nhất là công nghệ không chỉ dừng lại ở nhà xưởng của doanh nghiệp chế tạo, mà được chuyển hóa thành năng lực sản xuất của hàng nghìn cơ sở tại nhiều địa phương.

- Thực tế mỗi địa phương có điều kiện khác nhau về nguồn nguyên liệu, quy mô sản xuất và khả năng đầu tư. Doanh nghiệp đã tổ chức hoạt động tư vấn, chuyển giao và hỗ trợ vận hành như thế nào để các cơ sở có thể khai thác hiệu quả thiết bị sau khi tiếp nhận?

ThS. Hồ Xuân Vinh: Mỗi địa phương có nguồn nguyên liệu, nhu cầu sản phẩm, khả năng đầu tư và trình độ lao động khác nhau. Vì thế, chúng tôi không sử dụng một cấu hình máy móc giống nhau cho mọi khách hàng.

Trước khi chuyển giao, chúng tôi tìm hiểu điều kiện mặt bằng, nguyên liệu, quy mô đầu tư và đầu ra dự kiến để tư vấn phương án phù hợp. 

Sau bàn giao, chúng tôi hướng dẫn vận hành, bảo trì, xử lý sự cố và tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật khi điều kiện sản xuất thay đổi. Phản hồi từ khách hàng cũng là nguồn thông tin quan trọng để chúng tôi cải tiến các thế hệ thiết bị tiếp theo. 

Theo tôi, lợi thế của doanh nghiệp trong nước không chỉ là chi phí chế tạo mà còn là sự am hiểu điều kiện sản xuất tại địa phương và khả năng đồng hành cùng khách hàng.

Đưa sáng chế Việt vào sản xuất: Bài toán thị trường và giá trị thực tiễn- Ảnh 2.

Công trình đã tạo ra giá trị hàng hóa quy mô hàng nghìn tỷ đồng, đồng thời tạo việc làm cho hàng nghìn đến hàng chục nghìn lao động, hình thành các cơ sở sản xuất phân tán và góp phần phát triển kinh tế địa phương.

- Sản xuất vật liệu xây dựng xanh đang được khuyến khích nhằm tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động đến môi trường. Từ thực tế vận hành các dây chuyền, doanh nghiệp đã ghi nhận được những kết quả cụ thể nào về sử dụng nguyên liệu, năng lượng và giảm chất thải?

ThS. Hồ Xuân Vinh: Định hướng phát triển vật liệu xây dựng không nung xuất phát từ yêu cầu giảm phụ thuộc vào công nghệ nung đốt truyền thống, tiết kiệm tài nguyên và hạn chế những tác động môi trường liên quan. 

Trong quá trình phát triển thiết bị, chúng tôi tập trung vào các giải pháp sản xuất gạch không nung, đồng thời mở rộng sang xử lý nguyên liệu, tận thu và tái chế tài nguyên, phế thải xây dựng.

Một căn cứ quan trọng để đánh giá tác động của công nghệ là chương trình VCIC về sáng tạo ứng phó biến đổi khí hậu do Ngân hàng Thế giới hỗ trợ và chương trình “Ánh sáng Tri thức”. 

Giai đoạn 2016-2018, việc sử dụng máy đúc gạch không nung thay thế lò gạch nung truyền thống được ước tính góp phần giảm khoảng 529 nghìn tấn CO₂, 1,525 triệu m³ đất sét và 154 nghìn tấn than đá, đồng thời tạo ra 3.466 việc làm. Riêng trong giai đoạn 2016-2017, chúng tôi ghi nhận, đã có 512 bộ máy được bán ra.

Theo tôi, phát triển công nghệ xanh phải đi cùng hiệu quả kinh tế và khả năng ứng dụng. Công nghệ chỉ có thể tạo ra tác động môi trường trên diện rộng khi sản phẩm đủ phù hợp để được thị trường tiếp nhận và sử dụng lâu dài.

- Trong quá trình thương mại hóa công nghệ, khó khăn nào khiến ông trăn trở nhất?

ThS. Hồ Xuân Vinh: Khó nhất là phải dùng nguồn vốn ngắn hạn để nuôi những khoản đầu tư dài hạn. 

Nghiên cứu, chế tạo mẫu và hoàn thiện công nghệ đều cần thời gian, trong khi doanh nghiệp vẫn phải duy trì sản xuất, trả lương và đáp ứng các nghĩa vụ tài chính.

Chúng tôi phải lấy hoạt động kinh doanh hiện tại để tiếp tục đầu tư nghiên cứu. 

Trong điều kiện có nguồn vốn hạn chế, doanh nghiệp phải cân đối rất kỹ giữa việc duy trì hoạt động thường ngày và đầu tư cho những công nghệ chưa chắc tạo ra doanh thu ngay. 

Nếu có nguồn tài trợ đủ lớn, đúng thời điểm và phù hợp với giai đoạn phát triển, chúng tôi có thể đầu tư bài bản hơn, rút ngắn thời gian nghiên cứu, hoàn thiện sản phẩm nhanh hơn và tạo ra kết quả lớn hơn nhiều.

Bên cạnh vốn, doanh nghiệp ở địa phương còn khó thu hút nhân lực trình độ cao; sản phẩm mới phải cạnh tranh với thiết bị nhập khẩu và đối mặt nguy cơ bị sao chép, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. 

Không ít công nghệ khi mới xuất hiện chưa có thị trường rõ ràng, nên doanh nghiệp phải tự đầu tư trình diễn, thử nghiệm để tạo niềm tin. 

Nếu có cơ chế hỗ trợ đúng thời điểm, quá trình hoàn thiện sản phẩm và thương mại hóa có thể được rút ngắn.

- Theo ông, những chính sách hoặc cơ chế hỗ trợ nào là cần thiết để doanh nghiệp Việt Nam mạnh dạn đầu tư nghiên cứu, bảo hộ và thương mại hóa sáng chế, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ xanh?

ThS. Hồ Xuân Vinh: Theo tôi, hỗ trợ không nên chỉ dừng ở khâu nghiên cứu ban đầu mà cần bao quát cả bảo hộ sở hữu trí tuệ, chế tạo mẫu, thử nghiệm, kiểm chứng và tiếp cận thị trường. 

Với doanh nghiệp nhỏ, có thể xem xét miễn, giảm chi phí đăng ký và duy trì quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời phát triển cơ chế định giá để khai thác tài sản trí tuệ làm nguồn lực tài chính theo quy định pháp luật.

Tôi cũng mong có chương trình hỗ trợ giai đoạn thử nghiệm sản phẩm tại cơ sở đầu tiên, cơ chế vốn đối ứng linh hoạt và kết nối doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia, đơn vị kiểm định.

Theo tôi, điều quan trọng là tạo điều kiện để doanh nghiệp chứng minh giá trị công nghệ bằng kết quả sử dụng thực tế. Khi một giải pháp có tính ứng dụng, có khả năng cạnh tranh và mang lại lợi ích cho xã hội, chính sách cần giúp giải pháp đó vượt qua giai đoạn khó khăn nhất để phát triển thành sản phẩm thương mại.

- Trong thời gian tới, Hồ Hoàn Cầu đặt ra những mục tiêu gì để tiếp tục mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ và phát triển các giải pháp sản xuất vật liệu xây dựng xanh? Ông kỳ vọng doanh nghiệp công nghệ Việt Nam sẽ có vị trí như thế nào trong thị trường thiết bị sản xuất trong nước và quốc tế?

ThS. Hồ Xuân Vinh: Trong 3-5 năm tới, chúng tôi sẽ tiếp tục nâng cấp thiết bị hiện có, tăng độ ổn định, mức độ tự động hóa và mở rộng thị trường, trong đó có định hướng đẩy mạnh xuất khẩu và chuyển giao công nghệ. Đồng thời, doanh nghiệp quan tâm nghiên cứu những hướng mới như xử lý cát nhiễm mặn, sơn đất sinh thái, bê tông đất và vật liệu xây dựng từ sợi tự nhiên. Đây là những lĩnh vực có thể gắn với nhu cầu sử dụng tài nguyên hiệu quả, tận dụng nguyên liệu tại chỗ và phát triển vật liệu theo hướng xanh.

Tuy nhiên, sản phẩm mới phải được đánh giá kỹ về độ bền, chất lượng, hiệu quả kinh tế và nhu cầu thị trường trước khi nhân rộng. 

Mục tiêu của chúng tôi không chỉ là có thêm một mẫu sản phẩm mà là biến kết quả nghiên cứu thành công nghệ có khả năng sản xuất và sử dụng lâu dài, từng bước nâng cao sức cạnh tranh của thiết bị Việt Nam.

Chúng tôi tin rằng doanh nghiệp Việt Nam không chỉ có thể chế tạo thiết bị thay thế hàng nhập khẩu, mà còn có thể phát triển những giải pháp công nghệ của riêng mình, đưa vào sản xuất trong nước và từng bước chuyển giao ra nước ngoài. Đó cũng là cách để sáng chế Việt Nam khẳng định giá trị bằng hiệu quả thực tế và sự chấp nhận của thị trường.

- Cụm sáng chế vừa được Hội đồng chuyên ngành cấp Nhà nước đề nghị Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt 7. Ông đón nhận thông tin này như thế nào và muốn nhắn gửi điều gì tới thế hệ nhà khoa học, kỹ sư trẻ?

ThS. Hồ Xuân Vinh: Trước hết, tôi cảm thấy rất vui mừng và trân trọng khi Cụm sáng chế được Hội đồng chuyên ngành cấp Nhà nước đề nghị Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt 7. Đây là sự ghi nhận có ý nghĩa đối với quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo và bền bỉ theo đuổi công nghệ của chúng tôi trong hơn 20 năm qua.

Từ kinh nghiệm của mình, tôi mong thế hệ các nhà khoa học, kỹ sư trẻ hãy giữ vững đam mê, mạnh dạn theo đuổi những ý tưởng xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và không ngại khó khăn, thử thách. 

Nghiên cứu khoa học không chỉ dừng lại ở những sáng chế hay giải pháp kỹ thuật mới, mà quan trọng hơn là tạo ra những sản phẩm được ứng dụng trong cuộc sống, mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội và đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước.

- Xin trân trọng cảm ơn ThS. Hồ Xuân Vinh!