Gỡ nút thắt định giá để tài sản trí tuệ tạo giá trị kinh tế
<p style="text-align: justify;"><b>Tài sản vô hình ngày càng đóng vai trò lớn trong giá trị doanh nghiệp, nhưng khó xác định giá trị khiến việc khai thác nguồn lực này còn hạn chế. Đưa tài sản trí tuệ vào giao dịch cần kết nối kiến thức về pháp luật, công nghệ, tài chính và thị trường.</b></p>
Tài sản có giá trị, nhưng khó đưa vào giao dịch
Một công nghệ có thể được đầu tư nhiều năm nghiên cứu, nhưng khi đàm phán chuyển giao, các bên vẫn phải trả lời câu hỏi: tài sản này có giá trị bao nhiêu?
Câu trả lời ảnh hưởng trực tiếp đến việc chuyển nhượng, góp vốn hay thu hút đầu tư. Chủ sở hữu cần căn cứ để bảo vệ lợi ích; doanh nghiệp tiếp nhận cần biết khả năng khai thác; nhà đầu tư phải đánh giá cơ hội cùng rủi ro. Định giá trở thành điểm kết nối giữa kết quả sáng tạo và quyết định kinh doanh.
Theo ông Michael Kos, chuyên gia tài chính và định giá tài sản trí tuệ của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), cơ cấu giá trị doanh nghiệp toàn cầu đã chuyển dịch mạnh sang tài sản vô hình. Tuy nhiên, việc sử dụng các tài sản này cho mục đích tài chính vẫn còn ở giai đoạn sơ khai.
Ông Kos cho rằng tài sản vô hình chưa được phản ánh đầy đủ trong hệ thống tài chính, phần lớn do khó khăn trong xác định giá trị. Đây là thách thức của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Giới thiệu sản phẩm ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Hội nghị sở hữu trí tuệ toàn quốc, tháng 3-2024. Ảnh: Nguyễn Quang
Tài sản trí tuệ là một bộ phận của tài sản vô hình. Khi giá trị khó xác định, chủ sở hữu và đối tác thiếu một căn cứ quan trọng để thảo luận về giao dịch. Có kết quả nghiên cứu mới chỉ là bước đầu; khả năng khai thác cần được làm rõ để đi tới chuyển giao hoặc đầu tư.
Ông Akira Ogawa, chuyên gia dự án JICA thuộc Cơ quan Sáng chế Nhật Bản, đánh giá việc hiểu và xác định đúng giá trị tài sản trí tuệ là yếu tố thiết yếu trong xây dựng chiến lược và đưa ra quyết định đầu tư, kinh doanh hiệu quả.
Nhận định này đặt định giá vào quá trình ra quyết định của doanh nghiệp. Thông tin về giá trị cần giúp trả lời những câu hỏi cụ thể: tài sản phù hợp với phương án kinh doanh nào, cần phát triển tiếp ra sao và khả năng tạo lợi ích kinh tế đến đâu.
Một mức định giá vì thế phải đi cùng căn cứ giải thích. Nếu các bên không hiểu những điều kiện tạo nên giá trị, con số dù cao cũng khó giúp cuộc đàm phán tiến triển.
Không thể chỉ nhìn vào chi phí nghiên cứu
Khó khăn trong định giá bắt đầu từ chính đặc điểm của tài sản. Chi phí để nghiên cứu một công nghệ có thể xác định được, nhưng lợi ích khi ứng dụng còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện.
Ông André Gorius, chuyên gia thuộc Hiệp hội quốc tế các chuyên gia li-xăng (LESI), phân tích các yếu tố ảnh hưởng gồm công nghệ, thị trường, tài chính, mức độ hoàn thiện và khả năng thương mại hóa.
Ông cũng lưu ý tình trạng pháp lý là yếu tố quan trọng. Việc đăng ký bảo hộ, thời hạn bảo hộ còn lại và lịch sử tranh chấp có thể ảnh hưởng đến giá trị, khả năng khai thác tài sản trí tuệ.
Những yêu cầu này cho thấy định giá phải bắt đầu từ việc hiểu tài sản. Công nghệ đang ở giai đoạn nào? Quyền nào được chuyển giao? Bên tiếp nhận còn phải đầu tư gì? Những thông tin ấy cần được làm rõ trước khi lựa chọn cách tính.
Theo hướng dẫn của WIPO, cùng một sáng chế có thể mang lại giá trị khác nhau cho các doanh nghiệp, tùy vị thế thị trường và danh mục sản phẩm. Công nghệ ở giai đoạn đầu còn chịu tác động của nhu cầu phát triển tiếp, nguy cơ lạc hậu và thời gian khai thác kinh tế còn lại.
Vì vậy, xác định giá trị cần gắn với bối cảnh sử dụng. Một doanh nghiệp có điều kiện ứng dụng và thị trường phù hợp có thể nhìn thấy cơ hội khác với đơn vị còn phải xây dựng năng lực tiếp nhận. Đàm phán cần làm rõ những khác biệt này, thay vì chỉ trao đổi mức giá mong muốn.
Điểm nghẽn nằm cả ở năng lực và dữ liệu
Ông Phạm Văn Bình, Phó cục trưởng Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính, cho rằng nhận diện, xác định và đánh giá đúng giá trị tài sản trí tuệ là nội dung mới, khó và có tính liên ngành cao.
Theo ông Bình, công việc đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa pháp luật về giá, sở hữu trí tuệ, khoa học và công nghệ, tài chính, kế toán và hoạt động thị trường. Nâng cao nhận thức và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn có ý nghĩa quan trọng để xây dựng nền tảng chuyên môn, phục vụ hoàn thiện cơ chế, chính sách.
Yêu cầu liên ngành cho thấy người đánh giá cần hiểu cả quyền pháp lý, tính chất công nghệ và khả năng kinh doanh. Thiếu một trong những góc nhìn này có thể khiến kết quả khó phản ánh đầy đủ điều kiện khai thác tài sản.
Dữ liệu cũng là trở ngại đáng chú ý. Các doanh nghiệp thẩm định giá tại Việt Nam đã phản ánh tình trạng khan hiếm thông tin, sai lệch khi áp dụng tỷ suất chiết khấu và khoảng cách kỳ vọng giữa chủ sở hữu với nhà đầu tư. Cục Sở hữu trí tuệ khẳng định đã có hành lang pháp lý về thẩm định giá tài sản vô hình, song thực hiện vẫn gặp vướng mắc.
Các cách tiếp cận phổ biến gồm chi phí, thị trường và thu nhập. Dù xem xét nguồn lực tạo ra tài sản tương tự, đối chiếu giao dịch hay dự báo lợi ích tương lai, người đánh giá đều cần thông tin đáng tin cậy.
Với cách tiếp cận thị trường, thiếu giao dịch tương đồng khiến việc so sánh khó thuyết phục. Với cách tiếp cận thu nhập, những giả định về doanh thu, chi phí và rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả. Phương pháp phù hợp cần đi cùng dữ liệu và khả năng giải thích.
Đó cũng là lý do các hoạt động chuyên môn năm 2026 chú trọng chuẩn mực quốc tế, quy trình định giá, phân tích định tính, định lượng và rủi ro. Trong số chuyên gia tham gia có ông Nicolas Konialidis, được Cục Sở hữu trí tuệ giới thiệu là Giám đốc khu vực châu Á của Hội đồng Chuẩn mực Thẩm định giá Quốc tế (IVSC).
Định giá phải hỗ trợ quyết định thực tế
Một điểm cần hiểu đúng là kết quả thẩm định giá không tự động trở thành giá giao dịch cuối cùng.
Theo Cục Quản lý giá, thẩm định giá là hoạt động tư vấn xác định giá trị tài sản tại thời điểm, địa điểm nhất định, phục vụ mục đích cụ thể. Chứng thư và báo cáo thẩm định giá là một trong những cơ sở để các bên xem xét, quyết định hoặc phê duyệt giá tài sản.
Các bên vẫn phải cân nhắc điều kiện chuyển giao và khả năng khai thác. Giá trị của hoạt động chuyên môn nằm ở việc giúp quyết định có căn cứ hơn, giảm khoảng cách thông tin giữa chủ sở hữu và đối tác.

Ông Nguyễn Hoàng Giang, Phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ.
Theo ông Nguyễn Hoàng Giang, Phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, xác định giá trị tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt để chuyển hóa ý tưởng sáng tạo thành giá trị kinh tế, tạo cơ sở cho chuyển nhượng, cho phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ và góp vốn.
Bộ KH&CN đồng thời rà soát vướng mắc trong định giá quyền sở hữu trí tuệ hình thành từ nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước, lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu và trường đại học để đề xuất giải pháp phục vụ chuyển giao, thương mại hóa.
Từ sự chuyển dịch giá trị doanh nghiệp sang tài sản vô hình đến yêu cầu về dữ liệu, chuyên môn và pháp lý, bài toán đặt ra là tạo được căn cứ đủ tin cậy cho giao dịch. Khi giá trị được giải thích cùng điều kiện khai thác, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà đầu tư có thể bàn cụ thể hơn về hợp tác, nguồn lực và trách nhiệm.
Hiệu quả cuối cùng cần thể hiện ở những kết quả thực tế: công nghệ được chuyển giao, phương án góp vốn được thống nhất và nghiên cứu có thêm nguồn lực để phát triển thành sản phẩm.