Hai luật về chuyển giao công nghệ và sở hữu trí tuệ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/4/2026
<p style="text-align: justify;">Từ hôm nay (01/4/2026), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ chính thức có hiệu lực, góp phần hoàn thiện khung pháp lý, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển thị trường khoa học và công nghệ.</p>
Hoàn thiện cơ chế, khơi thông dòng chảy công nghệ
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ gồm 3 điều, tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ hiệu quả, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bắt kịp xu thế thế giới.
Luật tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính; đẩy mạnh công tác thông tin, thống kê phục vụ quản lý nhà nước; thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ nội sinh; khơi thông dòng chảy công nghệ giữa doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước và giữa cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu với doanh nghiệp.

Đồng thời, phát triển thị trường khoa học và công nghệ theo hướng hiệu quả, minh bạch, chuyên nghiệp; tạo môi trường thuận lợi cho giao dịch công nghệ và tài sản trí tuệ, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đáng chú ý, Luật đã có những điểm mới mang tính đột phá về cải cách thủ tục hành chính trong thẩm định, chấp thuận và cấp phép chuyển giao công nghệ theo hướng giảm gánh nặng cho nhà đầu tư; đẩy mạnh số hóa trong quản lý, giám sát và công khai thông tin về chuyển giao công nghệ.
Một điểm mới quan trọng là việc mở rộng cơ chế góp vốn bằng công nghệ. Theo đó, tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hợp pháp công nghệ được góp vốn vào dự án đầu tư hoặc doanh nghiệp và được thương mại hóa theo quy định của pháp luật có liên quan.
Đối với dự án sử dụng vốn nhà nước, công nghệ góp vốn phải được thẩm định giá và xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp trước khi thực hiện.
Nhà nước khuyến khích góp vốn bằng công nghệ được tạo ra từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước, đồng thời hỗ trợ thẩm định giá, xác lập quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp.
Luật quy định Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp có dự án thuộc địa bàn, lĩnh vực ưu đãi đầu tư thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ với tổ chức khoa học và công nghệ; khuyến khích các hình thức hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ quan, tổ chức, cá nhân để triển khai các dự án đổi mới công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển hạ tầng khoa học và công nghệ.
Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ.
Nhà nước hỗ trợ thông qua Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, quỹ phát triển khoa học và công nghệ và các hình thức hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật. Đồng thời, bố trí ngân sách phát triển mạng lưới các tổ chức khoa học và công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp và các tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh và cá nhân ứng dụng công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh.
Luật quy định rõ các nội dung chuyển tiếp nhằm bảo đảm tính ổn định, liên tục trong hoạt động chuyển giao công nghệ.
Theo đó, các thỏa thuận chuyển giao công nghệ được ký kết trước ngày 01/4/2026 tiếp tục được thực hiện theo thỏa thuận. Trường hợp sửa đổi, bổ sung hoặc gia hạn sau thời điểm này sẽ thực hiện theo quy định của Luật mới.
Các hồ sơ đã được thụ lý nhưng chưa giải quyết trước thời điểm Luật có hiệu lực sẽ tiếp tục xử lý theo quy định của pháp luật tại thời điểm tiếp nhận.
Sở hữu trí tuệ: Tài sản vô hình chính thức được “kích hoạt”
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ lần này tập trung vào cải cách thủ tục hành chính và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ; đẩy mạnh khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ, bổ sung cơ chế bảo hộ đối tượng mới, xử lý các vấn đề phát sinh và nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Đáng chú ý, về quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ, Luật quy định chủ sở hữu có trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ trong trường hợp quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán. Bên cạnh đó, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng quyền này để thực hiện các hoạt động giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật có liên quan như pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định khác.
Nhà nước khuyến khích khai thác quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp vay vốn theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, tín dụng và các quy định pháp luật liên quan, qua đó mở rộng khả năng chuyển hóa tài sản trí tuệ thành nguồn lực phát triển kinh tế.
Đồng thời, Nhà nước bảo đảm kinh phí, các điều kiện về cơ sở hạ tầng, phương tiện, trang thiết bị và các nguồn lực cần thiết khác cho hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, bao gồm cả hoạt động trong khuôn khổ các ủy ban, tiểu ban, nhóm công tác theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hợp tác quốc tế trong xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp; cũng như hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Về chuyển đổi số, Luật nhấn mạnh việc thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ thông qua ưu tiên phát triển đồng bộ hạ tầng số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và xây dựng các nền tảng số phục vụ nghiệp vụ, bao gồm cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm an toàn và thân thiện với người sử dụng.
Nhà nước cũng đầu tư để tự động hóa quy trình nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ, trong đó có dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch của hoạt động sở hữu trí tuệ.
Tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam có thể tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam để nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.
Đối với cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam, việc nộp đơn được thực hiện thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.
Đơn trong các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp phải được nộp dưới hình thức văn bản ở dạng giấy hoặc dạng điện tử theo hệ thống nộp đơn điện tử.