Hình thành doanh nghiệp dẫn dắt từ phát triển công nghệ chiến lược

<p style="text-align: justify;">Làm chủ công nghệ chiến lược đang trở thành yêu cầu then chốt nhằm bảo đảm năng lực cạnh tranh, tính tự chủ và an ninh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. Đây cũng là định hướng xuyên suốt của Nghị quyết 57-NQ/TW, khi xác lập khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu của tăng trưởng và trụ cột của mô hình phát triển hiện đại.</p>

Hình thành các liên minh công nghệ chiến lược

Trên cơ sở đó, Quyết định 2815/QĐ-TTg "Phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay" được ban hành như một chương trình hành động trọng tâm, nhằm tập trung nguồn lực phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược, từng bước nâng cao năng lực tự chủ và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. 

Đây không chỉ là sự cụ thể hóa chủ trương lớn, mà còn thể hiện bước chuyển mạnh mẽ về tư duy phát triển từ dàn trải sang trọng tâm, từ gia công lắp ráp sang làm chủ công nghệ lõi.

Một điểm nhấn nổi bật của chương trình là đổi mới căn bản cơ chế tổ chức thực hiện theo tinh thần Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học là nền tảng.

Theo đó, cơ chế đặt hàng và giao nhiệm vụ trực tiếp được áp dụng, thay thế phương thức truyền thống. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì lựa chọn các doanh nghiệp công nghệ có năng lực, phối hợp với viện, trường triển khai các nhiệm vụ trọng điểm. Cách tiếp cận này giúp tập trung nguồn lực đúng địa chỉ, đồng thời hình thành các tổ hợp nghiên cứu phát triển đủ sức giải quyết những bài toán lớn của quốc gia, hướng tới làm chủ công nghệ lõi.

img

Đầu tư cho nghiên cứu và làm chủ công nghệ chìa khóa nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Để bảo đảm hiệu quả thực thi, các tổ công tác chuyên trách do lãnh đạo Bộ trực tiếp chỉ đạo được thành lập, đóng vai trò điều phối liên ngành, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế và tổ chức triển khai. Song song, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) được áp dụng đối với các công nghệ, sản phẩm mới, tạo không gian thể chế linh hoạt để doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới sáng tạo.

Đặc biệt, việc hình thành các liên minh công nghệ chiến lược được xác định là giải pháp mang tính nền tảng. Các liên minh này kết nối doanh nghiệp dẫn dắt với viện nghiên cứu, trường đại học và mạng lưới chuyên gia trong, ngoài nước, qua đó hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh, làm chủ toàn bộ chuỗi giá trị từ nghiên cứu, phát triển đến sản xuất và thương mại hóa.

Phát triển công nghệ chiến lược từ bài toán quốc gia

Để đạt hiệu quả thực chất, cần chuyển mạnh từ tư duy "đi từ công nghệ" sang "đi từ bài toán quốc gia", đồng thời sử dụng thị trường, tiêu chuẩn và cơ chế đặt hàng của Nhà nước làm đòn bẩy.

Trước hết, với các sản phẩm công nghệ chiến lược đã đạt tiêu chuẩn, cần triển khai chương trình mua sắm công và chính sách ưu tiên sử dụng sản phẩm trong nước, đặc biệt đối với các lĩnh vực như UAV, camera AI, 5G, trợ lý ảo… nhằm tạo lập thị trường đủ lớn cho doanh nghiệp phát triển.

Cùng với đó, cần cho phép hình thành các khu thử nghiệm đặc biệt với cơ chế linh hoạt, đơn giản hóa thủ tục để thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Ở cấp Bộ, ngành và địa phương, việc phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo có vai trò then chốt trong việc đặt hàng doanh nghiệp, viện, trường giải quyết các bài toán lớn, với Nhà nước đóng vai trò khách hàng đầu tiên.

img

Đột phá tăng trưởng từ làm chủ công nghệ chiến lược.

Về tài chính, cần tiếp tục đổi mới theo hướng phân bổ ngân sách theo nhóm nhiệm vụ thông qua các quỹ khoa học và công nghệ, qua đó tăng tính chủ động, giảm thủ tục hành chính và gắn kết chặt chẽ hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn. Bộ Khoa học và Công nghệ giữ vai trò điều phối thống nhất trên nền tảng số nhằm hạn chế trùng lặp, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Nhà nước cần xác lập rõ các nhiệm vụ mang tầm quốc gia với mục tiêu, quy mô và cơ chế thực hiện cụ thể; đồng thời tạo dựng môi trường thuận lợi về tài chính, nhân lực và hạ tầng nghiên cứu, cùng cơ chế phân chia lợi ích hợp lý. Với những nhiệm vụ quy mô lớn, có thể giao cho đơn vị đủ năng lực chủ trì triển khai, qua đó huy động hiệu quả nguồn lực khoa học và công nghệ trong và ngoài nước, từng bước làm chủ các công nghệ then chốt, phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới.