Hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế tập thể

<p style="text-align: justify;">Với 116/527 hợp tác xã (HTX) nông nghiệp nằm trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN), Thái Nguyên đang từng bước đưa khoa học và công nghệ vào tổ chức sản xuất, nâng chất lượng nông sản, phát triển sản phẩm OCOP và liên kết theo chuỗi giá trị, qua đó tạo sinh kế, việc làm và nâng cao thu nhập cho đồng bào.</p>

Đưa khoa học, công nghệ vào kinh tế tập thể

Ở vùng DTTS&MN, sản xuất nông nghiệp vẫn là sinh kế quan trọng của người dân. Tuy nhiên, sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết khiến nhiều sản phẩm chưa phát huy được giá trị, khó đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Kinh tế tập thể, với nòng cốt là các HTX, đang mở ra hướng tổ chức lại sản xuất. Thay vì mỗi hộ sản xuất một cách, HTX giúp người dân liên kết về giống, kỹ thuật, quy trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế tập thể- Ảnh 1.

Thành viên HTX nông sản an toàn Liên Minh (Võ Nhai) thu hái chè được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP.

Tại Thái Nguyên, việc hỗ trợ đồng bào phát triển HTX được gắn với chuyển giao, ứng dụng khoa học và công nghệ, phát triển sản xuất an toàn, hữu cơ, xây dựng sản phẩm OCOP và sản xuất theo chuỗi giá trị.

Trong những năm qua, tỉnh đã triển khai 235 mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất, ứng dụng và chuyển giao khoa học - kỹ thuật trong nông nghiệp. Trong đó có 85 mô hình trình diễn, tập trung vào trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp; 40 mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị và nhiều mô hình hỗ trợ cơ giới hóa, phát triển kinh tế tập thể, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP.

Kết quả này góp phần đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với sản xuất của người dân vùng DTTS&MN, từ khâu lựa chọn giống, quy trình canh tác đến nâng cao chất lượng và giá trị nông sản.

Theo bà Vũ Thị Thu Hương, Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh, toàn tỉnh hiện có 240 sản phẩm OCOP từ 3 đến 5 sao, trong đó 195 sản phẩm, tương đương 81%, có chủ thể là HTX.

Đây không chỉ là câu chuyện phát triển sản phẩm, mà còn cho thấy vai trò của HTX trong việc đưa sản phẩm nông nghiệp địa phương từ quy mô hộ gia đình đến thị trường, tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.

Tháo điểm nghẽn để HTX vùng cao phát triển bền vững

Đến nay, 90/98 xã vùng DTTS&MN của Thái Nguyên đạt chuẩn nông thôn mới, tương đương 91,8%. Tỷ lệ hộ nghèo DTTS giai đoạn 2021-2023 giảm bình quân 2,55%/năm. Tuy vậy, khoảng cách từ mô hình sản xuất đến một nền sản xuất hàng hóa có giá trị cao vẫn còn không ít trở ngại.

Hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế tập thể- Ảnh 2.

Ứng dụng khoa học, kỹ thuật góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp ở vùng núi Thái Nguyên.

Ở một số địa bàn, ứng dụng khoa học và công nghệ còn nhỏ lẻ, thiếu bài bản. Công nghệ cao, công nghệ sinh học chưa được áp dụng rộng rãi để nâng năng suất, chất lượng nông sản. Chuỗi giá trị ở một số sản phẩm, làng nghề chưa khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ.

Liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân đã hình thành nhưng chưa thực sự bền vững. Trong khi đó, chất lượng, mẫu mã và sản lượng của nhiều sản phẩm chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường; năng lực quản trị sản xuất, kinh doanh của một bộ phận HTX còn hạn chế.

Vì vậy, bài toán tiếp theo không chỉ là đưa công nghệ đến với người dân, mà quan trọng hơn là giúp người dân làm chủ và duy trì hiệu quả công nghệ trong sản xuất.

Thời gian tới, việc đào tạo kiến thức, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, bảo vệ thực vật; giới thiệu các mô hình sản xuất hiệu quả cần được gắn với nhu cầu thực tế của từng vùng, từng sản phẩm.

Cùng với đó, cần nâng cao năng lực quản trị, tổ chức sản xuất và ứng dụng khoa học, công nghệ cho HTX; thúc đẩy liên kết giữa người dân, HTX, doanh nghiệp và nhà khoa học để hình thành những chuỗi sản xuất ổn định.

Khi người dân chủ động liên kết, HTX được củng cố và khoa học, công nghệ trở thành một phần của quy trình sản xuất, thế mạnh về nông, lâm nghiệp của vùng DTTS&MN sẽ có thêm cơ hội chuyển thành giá trị kinh tế bền vững.