Huế: Công nghệ cao mở hướng sản xuất mới ở vùng núi Nam Đông

<p style="text-align: justify;">Nhà kính, thủy canh, hệ thống bơm tuần hoàn điều khiển từ xa qua điện thoại cùng các giải pháp kiểm soát dinh dưỡng, môi trường canh tác đang từng bước được ứng dụng vào sản xuất tại khu vực miền núi Nam Đông, thành phố Huế. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH,CN&ĐMST) không chỉ giúp người dân chủ động hơn trong sản xuất mà còn mở hướng nâng cao giá trị nông sản, phát triển sinh kế và nhân rộng các mô hình nông nghiệp hiện đại ở vùng cao.</p>

Đối với sản xuất nông nghiệp miền núi, thời tiết, nguồn nước, điều kiện canh tác và khả năng tiếp cận thị trường tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Việc đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất vì thế đang tạo thêm cách làm mới, giúp người dân chủ động hơn trước những tác động của điều kiện tự nhiên.

Từ năm 2024, tại Huế đã có một số mô hình ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau và mô hình liên kết ứng dụng KH&CN theo chuỗi giá trị hàng hóa. Nhà màng, thủy canh, tưới tiết kiệm, truy xuất nguồn gốc... từng bước được ứng dụng nhằm kiểm soát tốt hơn quá trình sản xuất, nâng cao chất lượng và giá trị nông sản.

Ở vùng núi Nam Đông, những tiến bộ kỹ thuật ấy đang hiện diện trong chính khu vườn của người dân, từng bước làm thay đổi phương thức canh tác.

Đưa công nghệ vào từng khâu sản xuất

Tại thôn Ka Tư, xã Hương Phú, huyện Nam Đông trước đây (nay thuộc xã Khe Tre), thành phố Huế, mô hình trồng rau trong nhà kính cho thấy sự thay đổi rõ nét khi công nghệ được đưa vào từng khâu sản xuất.

Gia đình ông Trương Minh Hào trước đây chủ yếu trồng rau theo phương thức truyền thống, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, cây trồng dễ bị ảnh hưởng bởi thời tiết, năng suất thiếu ổn định. Từ thực tế đó, gia đình từng bước đầu tư nhà kính, chuyển sang phương thức canh tác ứng dụng công nghệ cao.

Anh Trương Minh Kiệt, con trai ông Hào, theo học ngành Nông nghiệp công nghệ cao tại Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế. Những kiến thức tiếp nhận tại trường được Kiệt đưa về ứng dụng ngay tại khu vườn của gia đình.

Thay vì trồng trực tiếp trên đất, rau được canh tác bằng phương pháp thủy canh. Dung dịch dinh dưỡng được đưa đến bộ rễ thông qua hệ thống tuần hoàn; các yếu tố như nồng độ dinh dưỡng, pH và nhiệt độ trong nhà kính được theo dõi, kiểm tra để điều chỉnh phù hợp với quá trình sinh trưởng của cây.

Công nghệ cao mở hướng sản xuất mới ở vùng núi Nam Đông - Ảnh 1.

Thay vì trồng trực tiếp trên đất, rau được canh tác bằng phương pháp thủy canh.

Hệ thống bơm vận hành theo chu kỳ 15 phút hoạt động, 15 phút nghỉ để tuần hoàn dung dịch dinh dưỡng. Đáng chú ý, thiết bị có thể được điều khiển từ xa thông qua ứng dụng trên điện thoại.

Kiệt cho biết, hệ thống bơm tuần hoàn giúp giảm công lao động, tiết kiệm nước; việc điều khiển bơm qua điện thoại tạo thuận lợi và chủ động hơn trong quá trình vận hành. Cùng với đó, dinh dưỡng, pH và nhiệt độ trong nhà kính được kiểm tra thường xuyên để duy trì điều kiện phù hợp cho cây phát triển.

Trên diện tích thủy canh khoảng 400 m² với khoảng 8.000 ô trồng, gia đình sản xuất nhiều loại rau như cải xanh, rau húng, rau muống, xà lách... Việc tổ chức sản xuất luân phiên cho phép thực hiện khoảng 12 vụ rau mỗi năm.

Hiệu quả của mô hình được tạo nên từ sự kết hợp của nhiều giải pháp kỹ thuật. Nhà kính hạn chế tác động bất lợi của thời tiết; thủy canh giúp kiểm soát nước và dinh dưỡng; hệ thống tuần hoàn tiết kiệm nguồn lực; điều khiển thiết bị từ xa giúp người sản xuất chủ động hơn trong quá trình canh tác. Phương thức sản xuất vì thế từng bước chuyển từ phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm sang chủ động kiểm soát các yếu tố kỹ thuật.

Mô hình được phát triển theo tiêu chuẩn VietGAP, với doanh thu vườn rau được ghi nhận khoảng 350–400 triệu đồng mỗi năm. Riêng 6 tháng đầu năm 2024, mô hình đạt doanh thu hơn 101 triệu đồng, chi phí sản xuất khoảng 45 triệu đồng.

Dù vậy, nâng cao năng lực sản xuất chưa đồng nghĩa với giải quyết được toàn bộ bài toán kinh tế. Rau thủy canh của mô hình thời điểm đó vẫn chủ yếu tiêu thụ tại Nam Đông, khả năng tiếp cận thị trường thành phố Huế còn hạn chế.

Thực tế này đặt ra yêu cầu cùng với ứng dụng công nghệ nâng năng suất, chất lượng, người sản xuất cần mở rộng thị trường, xây dựng liên kết và tìm đầu ra ổn định để giá trị của công nghệ chuyển thành hiệu quả kinh tế bền vững.

Từ làm chủ công nghệ đến mở rộng sinh kế

Điểm đáng chú ý ở mô hình Nam Đông là công nghệ không dừng lại trong phạm vi một khu vườn. Theo đó, tính đến cuối năm 2024, Trương Minh Kiệt đã chuyển giao mô hình thủy canh cho một hộ gia đình và hai hợp tác xã, gồm HTX Thủy Tân và HTX Thủy Châu, với tổng diện tích khoảng 2.000 m². Mô hình trồng dưa lưới được chuyển giao tại Phong Điền cũng bước đầu cho kết quả.

Từ kiến thức được tiếp nhận tại cơ sở đào tạo, kỹ thuật được đưa về vùng miền núi, ứng dụng trong thực tế sản xuất rồi tiếp tục được chia sẻ cho các hộ, hợp tác xã khác. Quá trình này cho thấy khi người dân có khả năng tiếp nhận và làm chủ kỹ thuật, hiệu quả của KH&CN có thể lan tỏa ra ngoài phạm vi mô hình ban đầu.

Cùng với làm chủ công nghệ sản xuất, tư duy đổi mới sáng tạo cũng từng bước hình thành. Kiệt cùng các thành viên xây dựng dự án "Cung cấp các sản phẩm rau sạch trồng thủy canh, hữu cơ cho bữa ăn hằng ngày" và tham gia Techfest Edu 2024.

Tại sự kiện, dự án nhận được cam kết đầu tư 300 triệu đồng để tiếp tục phát triển. Từ mô hình sản xuất trong khu vườn gia đình, việc tìm kiếm nguồn lực đầu tư cho thấy người sản xuất đã hướng tới bài toán lớn hơn: mở rộng quy mô, hoàn thiện sản phẩm và kết nối thị trường.

Công nghệ cao mở hướng sản xuất mới ở vùng núi Nam Đông - Ảnh 2.

Anh Trương Minh Kiệt giới thiệu sản phẩm rau sạch trồng theo phương pháp thủy canh.

Đây cũng là bước chuyển cần thiết đối với nông nghiệp công nghệ cao ở khu vực miền núi. Công nghệ có thể giúp kiểm soát sản xuất, tiết kiệm nguồn lực và nâng cao chất lượng nông sản, nhưng để tạo sinh kế bền vững còn cần vốn, thị trường, tổ chức sản xuất và khả năng kết nối với người tiêu dùng.

Bí thư Đoàn xã Hương Phú Võ Minh Trí đánh giá, mô hình tạo điều kiện để bà con học hỏi kinh nghiệm, chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại; đồng thời mở thêm cơ hội để thanh niên ở lại hoặc trở về địa phương phát triển kinh tế.

Câu chuyện ở Nam Đông vì thế không chỉ dừng ở việc đưa hệ thống thủy canh hay nhà kính về vùng núi. Điều quan trọng hơn là người dân có thể tiếp nhận kiến thức, trực tiếp vận hành thiết bị, kiểm soát quá trình sản xuất và tiếp tục chia sẻ kỹ thuật cho những người khác.

Từ nhà kính, thủy canh đến điều khiển thiết bị qua điện thoại, KH,CN&ĐMST đang giúp người sản xuất ở vùng miền núi chủ động hơn trước những bất lợi của điều kiện tự nhiên, sử dụng hiệu quả nguồn lực và từng bước nâng cao giá trị sản phẩm.

Khi công nghệ được người dân tiếp nhận, làm chủ và tiếp tục lan tỏa, những mô hình sản xuất mới không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn mở thêm cách làm, sinh kế và cơ hội phát triển kinh tế ngay trên vùng đất miền núi.