Huế: Đưa kỹ năng số đến với người dân miền núi Nam Đông
<p style="text-align: justify;">Từ mạng lưới Tổ công nghệ số cộng đồng đến những cán bộ trực tiếp hướng dẫn bà con sử dụng dịch vụ công, nền tảng và kỹ năng số, chuyển đổi số đang từng bước đi vào đời sống ở khu vực miền núi Nam Đông, thành phố Huế. Việc phổ cập kỹ năng số không chỉ giúp người dân tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn mà còn mở thêm cơ hội tham gia môi trường số, từng bước thu hẹp khoảng cách giữa miền núi và đô thị.</p>
Ở địa bàn miền núi, khoảng cách số không chỉ nằm ở hạ tầng viễn thông hay thiết bị, mà trở ngại còn đến từ việc chưa thành thạo điện thoại thông minh, chưa quen thực hiện thủ tục trên môi trường mạng, thanh toán trực tuyến hoặc nhận diện những nguy cơ mất an toàn thông tin của một bộ phận người dân.
Vì vậy, chuyển đổi số ở Nam Đông không dừng ở việc đưa thêm dịch vụ lên môi trường mạng. Điều quan trọng là giúp người dân biết sử dụng và từng bước hưởng lợi từ công nghệ.
Tại 10/10 xã, thị trấn của huyện Nam Đông trước đây, các Tổ công nghệ số cộng đồng được thành lập, kiện toàn. Tổng cộng 60 tổ tại 60/60 thôn, tổ dân phố tạo thành mạng lưới đưa kỹ năng số đến tận cộng đồng dân cư.
Nam Đông là địa bàn miền núi, nơi có đông đồng bào Cơ Tu sinh sống. Với đặc thù về địa hình, dân cư và điều kiện tiếp cận công nghệ, lực lượng hỗ trợ ngay tại cơ sở có vai trò quan trọng. Thay vì tự tìm hiểu các ứng dụng, nền tảng mới, bà con được hướng dẫn trực tiếp từ những thao tác ban đầu.
"Đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người"
Bà Trần Thị Thùy Yên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) thành phố Huế cho biết, ngay sau khi phong trào "Bình dân học vụ số" được phát động trên toàn quốc, Sở KH&CN đã tham mưu UBND thành phố Huế tổ chức phát động phong trào, tạo sức lan tỏa trong cộng đồng; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền trên các nền tảng số và phương tiện truyền thông.
Sở KH&CN cũng tham mưu UBND thành phố ban hành Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản và hướng dẫn đánh giá, xác nhận hoàn thành mức độ phổ cập kỹ năng số phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Nội dung đào tạo được xây dựng ngắn gọn, dễ hiểu, chú trọng thực hành những kỹ năng có thể áp dụng ngay trong đời sống như sử dụng Hue-S, thanh toán điện tử, khai thác dịch vụ công trực tuyến, bảo mật thông tin cá nhân.
Sở KH&CN cũng phối hợp với các cơ quan, đơn vị triển khai nhiều mô hình phù hợp với từng nhóm đối tượng như "Tổ công nghệ số cộng đồng", "Đội sinh viên tình nguyện số", "Gia đình số", "Chợ số - Nông thôn số" và các lớp học cộng đồng hằng tuần tại xã, phường.
Ở Nam Đông, chuyển đổi số được cụ thể hóa bằng những việc gần gũi với đời sống. Cán bộ cơ sở trực tiếp hỗ trợ người dân giải quyết thủ tục hành chính; hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến, quét mã QR, thanh toán không dùng tiền mặt, bảo vệ thông tin cá nhân và từng bước tự thực hiện các thao tác trên môi trường số.

Cán bộ cơ sở trực tiếp hỗ trợ người dân giải quyết thủ tục hành chính.
Người dân không chỉ tiếp cận kiến thức qua tờ rơi, cẩm nang kỹ năng số mà còn được thanh niên, sinh viên, các tổ chức đoàn thể, giáo viên và lực lượng tại cơ sở trực tiếp hỗ trợ với phương châm "đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người".
Cách làm này càng có ý nghĩa đối với khu vực nông thôn, miền núi, nơi khả năng tiếp cận và sử dụng công nghệ giữa các nhóm dân cư còn khác nhau. Người chưa quen thực hiện thủ tục trực tuyến được hướng dẫn từng thao tác; người bắt đầu sử dụng thanh toán điện tử được trang bị kiến thức bảo vệ tài khoản và thông tin cá nhân.
Qua tiếp nhận phản hồi, người dân đánh giá việc học kỹ năng số đơn giản, dễ tiếp cận, có tính ứng dụng cao. Những kỹ năng như quét mã QR, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, bảo mật thông tin cá nhân mang lại tiện ích thiết thực, an toàn, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí.
Tại Nam Đông, kết quả chuyển đổi số cho thấy tỷ lệ người dân và doanh nghiệp đăng ký hồ sơ trực tuyến cấp huyện đạt 2.544/2.594 hồ sơ, tương đương 98,07%. Kết quả này cho thấy dịch vụ số đã từng bước được người dân tiếp cận và sử dụng.
Tuy vậy, theo Phó Giám đốc Sở KH&CN thành phố Huế, kỹ năng số của một bộ phận người dân còn hạn chế; số người sử dụng các nền tảng phục vụ đào tạo, học tập trực tuyến còn thấp; nhận thức về tự bảo đảm an toàn thông tin trên môi trường mạng chưa cao. Hoạt động của một số Tổ công nghệ số cộng đồng cũng chưa thực sự hiệu quả.
Thanh toán trực tuyến còn gặp khó do người sử dụng cần có tài khoản ngân hàng, điện thoại thông minh và thiết bị đáp ứng yêu cầu. Thực tế này cho thấy chuyển đổi số ở miền núi cần một quá trình bền bỉ. Hạ tầng, nền tảng có thể được đầu tư, nhưng để người dân hình thành kỹ năng và thói quen sử dụng cần sự hỗ trợ thường xuyên, trực tiếp và phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Tổ công nghệ số cộng đồng vì thế trở thành cầu nối giữa công nghệ và người dân. Mục tiêu không phải làm thay, mà hướng dẫn để bà con từng bước tự sử dụng các dịch vụ và tiện ích số.
"Chợ số - Nông thôn số" kết nối thị trường - phục vụ sản xuất, kinh doanh
Khi những kỹ năng số cơ bản được hình thành, phạm vi ứng dụng công nghệ không chỉ giới hạn ở thực hiện thủ tục hành chính mà có thể mở rộng sang đời sống, sản xuất và kinh doanh.
Theo bà, Trần Thị Thùy Yên, Phó Giám đốc Sở KH&CN thành phố Huế, một trong những nhiệm vụ được Sở KH&CN xác định là tiếp tục hoàn thiện hệ sinh thái học kỹ năng số, phát triển Hue-S thành công cụ học tập số đặc thù của thành phố; đồng thời tham mưu nâng cấp Cổng thông tin chuyển đổi số để cung cấp tài liệu, cẩm nang, video hướng dẫn kỹ năng số đến cộng đồng.
Các mô hình tiếp cận người dân cũng tiếp tục được mở rộng. "Gia đình số" hướng tới mỗi hộ có ít nhất một thành viên biết sử dụng và có thể hướng dẫn kỹ năng số cho người thân; "Đại sứ số" hình thành lực lượng tuyên truyền, hỗ trợ tại xã, phường, trường học; "Mỗi công dân - Một danh tính số" thúc đẩy phổ cập VNeID và tài khoản thanh toán số. Từ những kỹ năng số cơ bản, bà con có thêm điều kiện tiếp cận thông tin, quảng bá sản phẩm, thanh toán điện tử, kết nối thị trường và từng bước khai thác công nghệ phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Sở KH&CN cũng xác định tiếp tục tăng cường tập huấn, đào tạo các Tổ công nghệ số cộng đồng, lực lượng nòng cốt trực tiếp đồng hành, hỗ trợ người dân. Cùng với đó là huy động nguồn lực xã hội thông qua phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, nhà trường để hỗ trợ thiết bị, đường truyền, tài liệu học tập, nhất là cho người yếu thế, người dân vùng sâu, vùng xa.
Đây là hướng đi có ý nghĩa đối với những địa bàn miền núi như Nam Đông. Với mạng lưới 60 Tổ công nghệ số cộng đồng tại 60/60 thôn, tổ dân phố, Nam Đông đã có lực lượng tại chỗ để đưa hoạt động hỗ trợ đến tận cộng đồng.

Từ mạng lưới Tổ công nghệ số, Nam Đông đang từng bước đưa kỹ năng số về gần hơn với bà con.
Cùng với kỹ năng sử dụng, an toàn thông tin ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu. Điện thoại thông minh, mạng xã hội và thanh toán điện tử mang lại nhiều tiện ích nhưng cũng kéo theo nguy cơ thông tin giả, lừa đảo trực tuyến, đánh cắp tài khoản và dữ liệu cá nhân. Bởi vậy, phổ cập kỹ năng số không chỉ là hướng dẫn sử dụng một ứng dụng. Người dân còn cần biết nhận diện rủi ro, bảo vệ tài khoản, dữ liệu cá nhân và kiểm chứng thông tin trước khi thực hiện giao dịch.
Từ mạng lưới Tổ công nghệ số cộng đồng phủ 60/60 thôn, tổ dân phố đến cách làm "đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người", Nam Đông đang từng bước đưa kỹ năng số về gần hơn với bà con.
Khi người dân miền núi không chỉ được tiếp cận mà có thể tự sử dụng công nghệ để giải quyết công việc, bảo vệ mình trên môi trường mạng và từng bước phục vụ sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi số mới thực sự đi vào cuộc sống. Đây cũng là nền tảng để KH&CN góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, mở rộng cơ hội sinh kế và thu hẹp khoảng cách số ở khu vực miền núi.