Khai thác khoáng sản biển: Đề xuất công nghệ phải đáp ứng những điều kiện nào?
<p style="text-align: justify;">Tăng hệ số thu hồi tài nguyên, nhưng phải bảo đảm hiệu quả kinh tế, an toàn và môi trường là yêu cầu được đặt ra trong đề xuất lộ trình ứng dụng công nghệ cao vào khai thác khoáng sản biển đến năm 2045.</p>

Toàn cảnh hội thảo.
Xác định khoảng cách công nghệ từ dữ liệu hiện có
Kiểm soát đám mây trầm tích, nguy cơ phóng xạ tự nhiên liên quan đến monazit, xói lở và thay đổi độ mặn khi sử dụng cát biển là những vấn đề được nhóm nghiên cứu lưu ý khi đề xuất công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản biển.
Các nội dung được thảo luận tại hội thảo do Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện kim tổ chức chiều 15/10/2026 tại Hà Nội, nhằm góp ý hoàn thiện nghiên cứu và dự thảo hồ sơ nhiệm vụ về ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực khoáng sản biển đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Trọng tâm nghiên cứu là lựa chọn hướng ứng dụng công nghệ trong toàn bộ chuỗi tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến và phân phối khoáng sản biển, không bao gồm dầu khí, để nâng cao hiệu quả khai thác và tăng hệ số thu hồi tài nguyên.

GS. TS Trần Nghi, đại diện nhóm tác giả báo cáo tại hội thảo.
Theo ThS. Nguyễn Bảo Linh, Chủ nhiệm nhiệm vụ, nghiên cứu tập trung vào khoáng sản rắn thuộc vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, gồm sa khoáng titan - zircon, cát trắng, cát biển, vật liệu xây dựng và một số đối tượng khoáng sản rắn biển sâu.
"Nhiệm vụ không thực hiện điều tra địa chất mới hay tính toán lại trữ lượng, mà tập trung tích hợp các nguồn dữ liệu hiện có, đánh giá thực trạng, xác định khoảng cách công nghệ và đề xuất các giải pháp phù hợp", ThS. Nguyễn Bảo Linh cho biết.
Để sàng lọc công nghệ, nhóm nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí theo thang điểm 100, gồm 7 nhóm yếu tố: mức độ phù hợp với tài nguyên; độ sẵn sàng công nghệ; hiệu quả thu hồi; an toàn và môi trường; khả năng làm chủ; hiệu quả kinh tế; mức độ tích hợp chuyển đổi số.
Các công nghệ đạt từ 80 điểm trở lên được đề xuất ưu tiên xem xét trình diễn. Đây là nội dung đề xuất của nhóm nghiên cứu, được đưa ra lấy ý kiến trong quá trình hoàn thiện nhiệm vụ.
Cùng với bộ tiêu chí, nhóm đánh giá tác động môi trường có thể phát sinh từ giai đoạn chuẩn bị, triển khai đến kết thúc hoạt động khai thác. Những vấn đề cần lưu ý gồm kiểm soát đám mây trầm tích; nguy cơ phóng xạ tự nhiên NORM liên quan đến monazit; nguy cơ xói lở và thay đổi độ mặn trong trường hợp sử dụng cát biển.
Lộ trình ba giai đoạn, gắn với năng lực làm chủ
Đến năm 2030, nhóm nghiên cứu đề xuất ưu tiên nâng cao độ tin cậy của dữ liệu tài nguyên, chuẩn hóa điều tra biển nông; hiện đại hóa công nghệ khai thác, chế biến titan - zircon, cát trắng, cát biển; xây dựng cơ sở dữ liệu số tích hợp.
Giai đoạn 2031-2040 tập trung tăng cường tích hợp, tự động hóa, mở rộng ứng dụng thiết bị dưới nước điều khiển từ xa (ROV), thiết bị tự hành dưới nước (AUV) và từng bước làm chủ công nghệ chế biến sâu.
Giai đoạn 2041-2045, việc ứng dụng các hệ thống công nghệ tích hợp phức tạp sẽ được xem xét trên cơ sở đáp ứng đồng thời các yêu cầu về tài nguyên, hiệu quả kinh tế, an toàn và bảo vệ môi trường.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm thực hiện đề xuất 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm và 11 hướng nghiên cứu cụ thể. Các nội dung tập trung vào điều tra tổng thể tài nguyên biển nông; hiện đại hóa công nghệ chế biến titan - zircon; xử lý cát biển, cát trắng; xây dựng cơ sở dữ liệu 3D/GIS và từng bước tích lũy năng lực khảo sát biển sâu.

TS. Tạ Dương Sơn, Viện trưởng Viện Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện kim phát biểu tại hội thảo.
TS. Tạ Dương Sơn, Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện kim, cho biết nhiệm vụ có phạm vi nghiên cứu rộng, liên quan đến lĩnh vực còn ít công trình chuyên sâu. Kết quả được kỳ vọng cung cấp dữ liệu và luận cứ khoa học phục vụ quản lý, hoạch định chính sách về khoáng sản biển.
Theo Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện kim Tạ Dương Sơn, Viện đã huy động chuyên gia trong và ngoài đơn vị, đến từ nhiều cơ quan nghiên cứu cùng tham gia xây dựng nhiệm vụ. Trước hội thảo, các nội dung đã được Hội đồng kỹ thuật rà soát, góp ý. Việc tham vấn sẽ tiếp tục qua các hội đồng và các vòng lấy ý kiến tiếp theo.
Tại hội thảo, các chuyên gia tập trung trao đổi về chuẩn hóa và khai thác dữ liệu tài nguyên kế thừa; tính khả thi của cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox); đào tạo nhân lực và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị nghiên cứu.