Khẳng định vị thế tri thức Việt Nam qua công bố quốc tế

Trong bối cảnh cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, năng lực công bố quốc tế đang trở thành một trong những thước đo quan trọng phản ánh sức mạnh khoa học của mỗi quốc gia. Không chỉ dừng lại ở những con số thống kê, công bố quốc tế là chuẩn mực kiểm chứng chất lượng học thuật, là minh chứng cho mức độ hội nhập và khả năng tham gia vào dòng chảy tri thức chung của nhân loại.

Đòn bẩy nâng cao vị thế khoa học Việt Nam

Đối với Việt Nam, yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả công bố quốc tế không còn là lựa chọn, mà là đòi hỏi tất yếu trong tiến trình phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Mỗi bài báo được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín không chỉ góp phần khẳng định vị thế của nhà khoa học, của cơ sở nghiên cứu, mà còn đóng góp trực tiếp vào hình ảnh và uy tín khoa học quốc gia.

Đặt trong bối cảnh chiến lược mới, yêu cầu tăng cường công bố quốc tế càng trở nên cấp thiết. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2024 đã nhấn mạnh vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong phát triển đất nước. 

Trong khi đó, cạnh tranh khoa học trong khu vực ASEAN gia tăng nhanh chóng, nguy cơ tụt hậu về tri thức hiện hữu nếu Việt Nam không có bước chuyển mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả nghiên cứu. Giai đoạn 2026-2030 được xác định là thời kỳ bản lề để tái cấu trúc chiến lược phát triển khoa học theo hướng thực chất, bền vững và hội nhập sâu rộng.

Số liệu giai đoạn 2015-2025 cho thấy bức tranh tăng trưởng ấn tượng về số lượng công bố quốc tế của Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 17,7%/năm. Năm 2021, cả nước ghi nhận 13.609 bài báo quốc tế; đến năm 2025 con số này đạt 15.006 bài, mức tăng trưởng khoảng 2,5%/năm trong giai đoạn cuối kỳ. Đây là kết quả đáng ghi nhận, phản ánh nỗ lực của hệ thống nghiên cứu và giáo dục đại học trong việc đẩy mạnh hội nhập học thuật.

Khẳng định vị thế tri thức Việt Nam qua công bố quốc tế- Ảnh 1.

Hoạt động nghiên cứu tại phòng thí nghiệm công nghệ sinh học nền tảng quan trọng nâng cao chất lượng công bố quốc tế và năng lực khoa học quốc gia.

Tuy nhiên, phía sau những con số tăng trưởng vẫn tồn tại những thách thức về chất lượng. Khoảng 14,79% số bài chưa được trích dẫn; nhiều công bố tập trung ở các tạp chí có hệ số ảnh hưởng (IF) thấp, phổ biến trong khoảng 0,5-1, dẫn tới mức độ lan tỏa học thuật còn hạn chế. Xu hướng chuyển dịch từ "tăng số lượng" sang "nâng chất lượng" đang dần hình thành, song cần được định hướng bằng chính sách cụ thể và cơ chế đánh giá phù hợp hơn.

Về phân bố theo đơn vị, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về số lượng công bố quốc tế. Tiếp theo là Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Tôn Đức Thắng.

 Nhóm 5 đơn vị đứng đầu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số bài báo quốc tế, cho thấy sự tập trung nguồn lực đáng kể. Tuy nhiên, khoảng cách giữa nhóm dẫn đầu và các đơn vị còn lại vẫn khá xa, đặt ra yêu cầu thu hẹp chênh lệch, phát triển mạng lưới nghiên cứu đồng đều hơn. Đáng chú ý, xu hướng đầu tư mạnh của khối tư thục đang góp phần tạo thêm động lực cạnh tranh mới.

Đối với lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV), tỷ trọng công bố quốc tế vẫn còn khiêm tốn so với khối khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ. Đặc thù phương pháp định tính, sự gắn chặt với bối cảnh quốc gia và hạn chế về số lượng tạp chí Q1-Q2 trong lĩnh vực này là những nguyên nhân chủ yếu. Thị trường tạp chí phân mảnh, yêu cầu chuẩn hóa cấu trúc bài viết theo mô hình IMRD khiến nhiều nghiên cứu khó thích ứng nếu thiếu hỗ trợ về kỹ năng và hạ tầng.

Trong khối KHXH&NV, ba trụ cột chính gồm Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) (379 bài, chiếm 39,7%), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (356 bài, 37,3%) và Trường Đại học KHXH&NV TP.HCM (267 bài, 28,0%). Dù đã hình thành các trung tâm nghiên cứu có năng lực, song mức độ hợp tác nội bộ giữa các đơn vị còn thấp, dư địa liên kết và chia sẻ nguồn lực vẫn rất lớn.

Hợp tác quốc tế tiếp tục là động lực quan trọng của công bố quốc tế. Năm quốc gia chiếm tới 47% tổng số bài có yếu tố hợp tác, trong đó Hàn Quốc là đối tác hàng đầu; tiếp đến là Mỹ, Trung Quốc, Úc và Nhật Bản. Tỷ lệ bài báo có yếu tố quốc tế đạt 77-90% cho thấy mức độ hội nhập cao, song cũng phản ánh phần nào sự phụ thuộc lớn vào mạng lưới nghiên cứu nước ngoài. Bài toán đặt ra là làm sao vừa duy trì hợp tác, vừa nâng cao năng lực nội sinh và chủ động đề xuất, dẫn dắt đề tài.

Giải bài toán cấu trúc, mở rộng hợp tác và xây dựng năng lực nội sinh bền vững

Trong so sánh khu vực, Việt Nam được ghi nhận là quốc gia có tốc độ tăng trưởng công bố nhanh nhất ASEAN, đạt 34,7%/năm trong một số giai đoạn. Chỉ số tác động học thuật chuẩn hóa (WFCI) đạt 0,73 đứng thứ hai trong khu vực, ở mức khá cao. Tuy nhiên, số công bố trên một triệu dân vẫn còn thấp, cho thấy tiềm năng chưa được khai thác đầy đủ.

Riêng VASS, số lượng công bố quốc tế tăng từ dưới 5 bài năm 2015 lên 69 bài năm 2021 và 73 bài năm 2025. Mạng lưới hợp tác tập trung vào Mỹ và Úc; Nhật Bản là đối tác châu Á quan trọng. Chỉ số trích dẫn chuẩn hóa (CNCI) ở mức cao, phản ánh hiệu quả của mô hình hợp tác chọn lọc. Xu hướng duy trì số bài ổn định ở mức cao đang dần được thiết lập.

Dẫu vậy, những rào cản cấu trúc vẫn tồn tại. Hạn chế về kỹ năng viết học thuật bằng tiếng Anh, thiếu hạ tầng dữ liệu, gánh nặng giảng dạy và cơ chế đánh giá còn mâu thuẫn là những vấn đề nổi bật. Trong KHXH&NV, việc chuyển ngữ học thuật, chuẩn hóa phương pháp và tiếp cận thị trường tạp chí quốc tế đòi hỏi sự đầu tư dài hạn và chuyên nghiệp.

Khẳng định vị thế tri thức Việt Nam qua công bố quốc tế- Ảnh 2.

Hạ tầng phòng sạch hiện đại góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và chất lượng công bố quốc tế.

Trước yêu cầu mới, định hướng chính sách cần chuyển từ tư duy "đếm sản phẩm" sang đánh giá hiệu quả và tác động xã hội của nghiên cứu. Cần xây dựng cơ chế đánh giá đa chiều, tránh chỉ tập trung vào một số trung tâm xuất sắc mà bỏ quên mạng lưới vệ tinh. Phát triển khoa học mở, thúc đẩy chia sẻ dữ liệu, đầu tư hạ tầng nghiên cứu và hình thành các mô hình hợp tác mới là những giải pháp then chốt.

Công bố quốc tế là xu thế tất yếu trong tiến trình nâng cao vị thế khoa học của Việt Nam. Những bước tiến vừa qua là nền tảng quan trọng, song thách thức vẫn mang tính cấu trúc, đặc biệt đối với KHXH&NV. Để bứt phá trong giai đoạn tới, cần sự vào cuộc đồng bộ: Đầu tư kinh phí cho nghiên cứu dài hạn có đóng góp xã hội; xây dựng mạng lưới hợp tác hiệu quả; hoàn thiện cơ sở hạ tầng; tăng cường hợp tác quốc tế trên nền tảng tự chủ và chủ động.

Nâng cao năng lực công bố quốc tế không chỉ là mục tiêu của từng nhà khoa học hay từng cơ sở nghiên cứu, mà là chiến lược quốc gia nhằm khẳng định vị thế Việt Nam trong hệ sinh thái tri thức toàn cầu. Chỉ khi chuyển từ tăng trưởng về lượng sang nâng tầm về chất, khoa học Việt Nam mới thực sự tạo dựng được ảnh hưởng học thuật và đóng góp thiết thực cho phát triển bền vững đất nước.