KHCN, ĐMST và CĐS tạo động lực phát triển bền vững cho đồng bào dân tộc
<p>Thay vì chỉ tập trung đầu tư hạ tầng, Lai Châu chuyển mạnh sang ứng dụng khoa học, công nghệ để nâng cao năng suất lao động, phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị và nâng cao năng lực quản trị ở cơ sở.</p>
Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân và giữ vững quốc phòng, an ninh khu vực biên giới.
Lai Châu là tỉnh miền núi có khoảng 85% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 1719) không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ đầu tư hạ tầng, giảm nghèo mà còn trở thành nền tảng để thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo động lực phát triển bền vững.
Sau hơn 5 năm triển khai, Chương trình 1719 đã góp phần tạo chuyển biến tích cực trên nhiều lĩnh vực của tỉnh. Hệ thống giao thông, trường học, cơ sở y tế, điện, nước sinh hoạt và các công trình hạ tầng thiết yếu tại vùng sâu, vùng xa tiếp tục được đầu tư đồng bộ, tạo điều kiện để người dân tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản và mở rộng cơ hội phát triển sản xuất. Cùng với đó, nhiều mô hình hỗ trợ sinh kế, phát triển nông nghiệp hàng hóa, bảo tồn văn hóa dân tộc và đào tạo nghề đã từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống của đồng bào.
Điểm nổi bật trong giai đoạn mới là việc Lai Châu chủ động lồng ghép các mục tiêu của Chương trình 1719 với Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Thay vì chỉ tập trung đầu tư hạ tầng, tỉnh chuyển mạnh sang ứng dụng khoa học, công nghệ để nâng cao năng suất lao động, phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị và nâng cao năng lực quản trị ở cơ sở.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhiều mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đã được nhân rộng tại các vùng sản xuất chè, sâm Lai Châu, mắc ca, quế, cây dược liệu và chăn nuôi đại gia súc. Người dân được tiếp cận giống mới, quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn, kỹ thuật canh tác bền vững và các giải pháp bảo quản sau thu hoạch. Việc gắn nghiên cứu khoa học với nhu cầu thực tiễn đã giúp nhiều sản phẩm đặc trưng của địa phương nâng cao chất lượng, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và thị trường.
Song song với ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi rõ nét trong phương thức tổ chức sản xuất. Nhiều hợp tác xã và doanh nghiệp đã áp dụng mã QR truy xuất nguồn gốc, số hóa quy trình quản lý vùng nguyên liệu, quảng bá sản phẩm trên các nền tảng số và đưa sản phẩm OCOP lên các sàn thương mại điện tử. Những giải pháp này giúp mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị nông sản, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc vào phương thức kinh doanh truyền thống.
Để tạo nền tảng cho chuyển đổi số vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Lai Châu đặc biệt chú trọng phát triển hạ tầng số và nâng cao kỹ năng số cho người dân. Đến năm 2026, 100% xã trên địa bàn tỉnh đã được kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng; hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến, nền tảng quản lý văn bản, giải quyết thủ tục hành chính và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành tiếp tục được hoàn thiện. Tỉnh cũng đẩy mạnh số hóa hồ sơ, ứng dụng chữ ký số và kết nối dữ liệu liên thông, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng tốt hơn.
Một điểm sáng khác là công tác phát triển nguồn nhân lực số. Phong trào "Bình dân học vụ số" được triển khai rộng khắp, góp phần phổ cập kỹ năng số cho cán bộ cơ sở và người dân. Đến giữa năm 2026, toàn tỉnh đã có 2.191 học viên hoàn thành các khóa học chuyển đổi số trên nền tảng MOOCs, tạo nền tảng để người dân tiếp cận các dịch vụ số, thương mại điện tử và ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm thu hẹp khoảng cách số giữa khu vực miền núi với các vùng phát triển hơn.
Hoạt động đổi mới sáng tạo cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Tỉnh đã thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số, xây dựng kế hoạch nâng cao Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII), đồng thời đổi mới cơ chế đặt hàng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo hướng giải quyết trực tiếp các bài toán phát triển của địa phương. Trong quý I/2026, toàn tỉnh có 121 sáng kiến, mô hình đổi mới sáng tạo được đăng ký, trong đó 53 sáng kiến đã được công nhận và đưa vào thực tiễn. Tỉnh cũng công bố ba "bài toán lớn" để thu hút doanh nghiệp, viện nghiên cứu cùng tham gia giải quyết các vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội.
Những kết quả trên đang góp phần nâng cao hiệu quả quản trị địa phương. Đến năm 2026, tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến của Lai Châu đạt gần 80%, 99% hồ sơ được giải quyết trước và đúng hạn, đưa tỉnh vào nhóm 10 địa phương dẫn đầu cả nước về Bộ Chỉ số phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đây không chỉ là kết quả của quá trình cải cách hành chính mà còn phản ánh hiệu quả của chuyển đổi số trong phục vụ người dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa.
Thực tiễn triển khai Chương trình 1719 cho thấy, khi được kết hợp với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, các chính sách hỗ trợ không chỉ giúp cải thiện điều kiện sống trước mắt mà còn tạo nền tảng phát triển lâu dài cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây cũng là hướng đi mà Lai Châu tiếp tục kiên trì trong giai đoạn 2026 - 2030, với mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất lao động và từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi với các vùng động lực của cả nước.