Khoa học công nghệ tạo sinh kế bền vững cho bà con dân tộc miền núi

<p style="text-align: justify;">Từ một địa phương miền núi biên giới với điều kiện sản xuất còn nhiều khó khăn, những năm gần đây, Cao Bằng đang từng bước tạo chuyển biến trong phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số thông qua việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.</p>

Các đặc sản của đồng bào các dân tộc Cao Bằng ngày càng phổ biến rộng rãi toàn quốc thông qua các nền tảng số.

Các đặc sản của đồng bào các dân tộc Cao Bằng ngày càng phổ biến rộng rãi toàn quốc thông qua các nền tảng số.

Những mô hình sản xuất gắn với chuỗi giá trị, công nghệ chế biến, truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử không chỉ góp phần nâng cao năng suất lao động mà còn tạo thêm sinh kế bền vững, giúp đồng bào các dân tộc khai thác hiệu quả tiềm năng của địa phương.

Là tỉnh có trên 95% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, Cao Bằng xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những động lực quan trọng để thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 1719). Quan điểm này cũng phù hợp với định hướng của Trung ương khi lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế theo chuỗi giá trị và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Một trong những mô hình tiêu biểu là phát triển hạt dẻ Trùng Khánh theo chuỗi giá trị. Nếu trước đây sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng quả tươi thì hiện nay nhiều hợp tác xã và doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền sơ chế, bảo quản, đóng gói hiện đại, đồng thời ứng dụng mã QR truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu. Việc chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng giống, áp dụng kỹ thuật chăm sóc tiên tiến đã góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước.

Tại huyện Nguyên Bình, mô hình phát triển miến dong Phia Đén cũng đang cho thấy hiệu quả rõ nét khi kết hợp tri thức bản địa với công nghệ chế biến hiện đại. Các cơ sở sản xuất từng bước đầu tư hệ thống sấy, đóng gói, kiểm soát chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và xây dựng nhận diện thương hiệu. Nhờ đó, sản phẩm không chỉ giữ được hương vị truyền thống mà còn đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường hiện đại, góp phần nâng cao thu nhập cho hàng trăm hộ đồng bào dân tộc Dao và Tày tham gia vùng nguyên liệu.

Đối với cây hồi, quế và các loại dược liệu bản địa, nhiều địa phương đã chuyển từ khai thác tự nhiên sang phát triển vùng nguyên liệu tập trung theo hướng bền vững. Người dân được tập huấn quy trình kỹ thuật, áp dụng các biện pháp canh tác an toàn, từng bước hình thành các chuỗi liên kết giữa hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ trong sơ chế, bảo quản và chế biến sâu đã góp phần nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, giảm tình trạng bán nguyên liệu thô, đúng với định hướng phát triển vùng nguyên liệu gắn với chuỗi giá trị và sản phẩm OCOP của Chính phủ.

Chuyển đổi số cũng đang mở ra không gian phát triển mới cho các sản phẩm đặc trưng của Cao Bằng. Nhiều hợp tác xã đã ứng dụng phần mềm quản lý sản xuất, sử dụng mã QR truy xuất nguồn gốc, số hóa thông tin sản phẩm và đưa hàng hóa lên các sàn thương mại điện tử. Các hoạt động quảng bá thông qua nền tảng số, mạng xã hội và livestream bán hàng giúp sản phẩm OCOP của tỉnh tiếp cận người tiêu dùng trên phạm vi cả nước, giảm đáng kể sự phụ thuộc vào thương lái và thị trường truyền thống.

Theo thống kê của tỉnh, đến nay Cao Bằng đã có hàng trăm sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó nhiều sản phẩm do các hợp tác xã, doanh nghiệp và hộ sản xuất là đồng bào dân tộc thiểu số làm chủ. Việc ứng dụng công nghệ trong thiết kế bao bì, truy xuất nguồn gốc, bảo hộ nhãn hiệu và xúc tiến thương mại đã góp phần nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm địa phương, đồng thời tạo thêm việc làm và thu nhập ổn định cho người dân. Định hướng này cũng phù hợp với các quy định mới của Chính phủ về phát triển OCOP theo hướng xanh, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và phát triển thị trường.

Không chỉ trong nông nghiệp, khoa học, công nghệ còn góp phần thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng tại các làng văn hóa của đồng bào Tày, Nùng, Dao, Mông. Việc số hóa điểm đến, quảng bá trên các nền tảng du lịch trực tuyến, ứng dụng thanh toán không dùng tiền mặt và kết nối với các sản phẩm OCOP đã giúp nhiều điểm du lịch cộng đồng thu hút lượng khách ngày càng tăng. Mô hình này vừa tạo thêm sinh kế cho người dân, vừa góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, nghề thủ công và ẩm thực đặc sắc của địa phương.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Cao Bằng vẫn đang tiếp tục mở rộng việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp thông minh, xây dựng cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu, phát triển mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và tăng cường đào tạo kỹ năng số cho hợp tác xã, hộ sản xuất. Đây được xem là những giải pháp quan trọng nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số khu vực nông thôn theo định hướng của Chính phủ.

Thực tiễn triển khai cho thấy, khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được gắn với lợi thế đặc thù của từng địa phương và nhu cầu thực tế của người dân, hiệu quả mang lại không chỉ dừng ở việc nâng cao năng suất lao động mà còn tạo ra những chuỗi giá trị bền vững. Đây chính là nền tảng để Cao Bằng tiếp tục phát huy tiềm năng của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, nâng cao thu nhập và từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển với các địa phương trong cả nước.