Khoa học và công nghệ nâng giá trị cà phê Sơn La

<p style="text-align: justify;">Với hơn 33.600 ha cà phê, gần 20.000 ha đang cho thu hoạch và sản lượng trên 37.700 tấn cà phê nhân mỗi năm, tỉnh Sơn La đang đẩy mạnh ứng dụng giống mới, kỹ thuật canh tác, số hóa vùng trồng và truy xuất nguồn gốc để nâng giá trị sản phẩm.</p>

Cà phê là một trong những cây trồng chủ lực của tỉnh Sơn La, đồng thời tạo sinh kế cho hàng nghìn hộ dân vùng cao. Tuy nhiên, nhiều diện tích đã bước vào giai đoạn cần tái canh, trong khi thị trường ngày càng yêu cầu cao về chất lượng, nguồn gốc và phương thức sản xuất bền vững.

Từ thực tế đó, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sơn La đã triển khai nhiều nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ gắn với sản xuất. Hoạt động tập trung từ khâu giống, kỹ thuật canh tác đến sơ chế, bảo quản và truy xuất nguồn gốc.

Khoa học và công nghệ nâng giá trị cà phê Sơn La- Ảnh 1.

Mô hình trồng thử nghiệm giống cà phê chè Stamaya, xã Chiềng Mai.

Giống mới mở hướng nâng năng suất, chất lượng cà phê

Một trong những kết quả đáng chú ý là nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Nghiên cứu tuyển chọn một số giống cà phê chè có năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện tự nhiên tỉnh Sơn La”, do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông lâm nghiệp Tây Bắc thực hiện giai đoạn 2021-2024.

Nhóm nghiên cứu đã thu thập, đánh giá nhiều giống cà phê chè trong nước và nhập nội. Qua tuyển chọn, hai giống lai TN7, TN9 đạt năng suất trung bình từ 2,76-2,95 tấn nhân/ha. Hai giống nhập nội Stamaya và H1 thích ứng tốt với điều kiện Sơn La, đạt năng suất 1,90-2,31 tấn nhân/ha và có một số chỉ tiêu chất lượng hạt cao hơn giống Catimor.

Khoa học và công nghệ nâng giá trị cà phê Sơn La- Ảnh 2.

Mô hình trồng thử nghiệm giống cà phê chè Stamaya, xã Chiềng Mai.

Từ kết quả này, hai mô hình giống Stamaya và H1 được xây dựng, quy mô 1 ha/mô hình. Sau hai năm trồng, cây sinh trưởng tốt, năng suất quả tươi dự kiến đạt 12-15 tấn/ha. Hiệu quả kinh tế sau khi trừ chi phí đạt khoảng 107-145,8 triệu đồng/ha.

Hai lớp tập huấn kỹ thuật và hai hội thảo đầu bờ cũng được tổ chức, giúp nông dân tiếp cận quy trình trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh phù hợp với giống mới.

Đáng chú ý, trong giai đoạn 2026-2030, Sơn La tiếp tục đưa các giống cà phê chè H1, Stamaya và những giống có năng suất, chất lượng tốt vào sản xuất, giúp người dân có thêm lựa chọn khi trồng mới và tái canh cà phê.

Số hóa vùng trồng để đi xa hơn trên thị trường xuất khẩu cà phê

Nếu giống mới giải quyết bài toán năng suất và chất lượng từ vườn cây, số hóa đang trở thành công cụ để cà phê Sơn La đáp ứng yêu cầu thị trường.

Tại Mường Chanh, vùng trồng cà phê lớn của tỉnh Sơn La, các cơ quan chuyên môn đang phối hợp thu thập dữ liệu từng lô đất, xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng và phục vụ truy xuất nguồn gốc. Cách làm này đặc biệt quan trọng khi thị trường Liên minh châu Âu áp dụng Quy định chống mất rừng và suy thoái rừng - EUDR.

Khoa học và công nghệ nâng giá trị cà phê Sơn La- Ảnh 3.

Người dân xã Mường Chanh chăm sóc cà phê.

Đến hết tháng 7/2026, tỉnh Sơn La đã rà soát 8.352 ha cà phê tại Mường Chanh và Nậm Lầu. Tỉnh đặt mục tiêu hoàn thành rà soát toàn bộ diện tích cà phê trước ngày 30/12/2026, hướng tới công bố bản đồ hiện trạng phục vụ truy xuất nguồn gốc và xác định rõ diện tích đủ điều kiện tham gia chuỗi xuất khẩu.

Song song với số hóa, tỉnh Sơn La tiếp tục nâng tỷ lệ chế biến sâu và kiểm soát môi trường. Theo định hướng phát triển cà phê bền vững năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt khoảng 35.000 ha cà phê, 60.000 tấn cà phê nhân, trên 80% sản lượng quả tươi được chế biến ở quy mô công nghiệp.

Từ giống mới, kỹ thuật canh tác đến bản đồ số và truy xuất nguồn gốc, khoa học và công nghệ đang góp phần nâng cao giá trị cà phê Sơn La từ năng suất, chất lượng đến khả năng kiểm soát nguồn gốc và mở rộng thị trường tiêu thụ.