Làm chủ kỹ thuật ghép gan từ người hiến chết não, mở rộng cơ hội điều trị
<p style="text-align: justify;">Từ hoàn thiện kỹ thuật phẫu thuật đến chuẩn hóa quy trình chuyên môn và ứng dụng các giải pháp kiểm soát đông máu, nhóm đề tài ghép gan thuộc Cụm công trình "Ghép mô - tạng từ người hiến chết não: Những giải pháp kỹ thuật đột phá, nhân rộng và thay đổi nhận thức cộng đồng" do Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức chủ trì đã đạt nhiều kết quả trong nâng cao hiệu quả điều trị và sử dụng nguồn tạng hiến. Cụm công trình được đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ đợt 7.</p>
Từ những ca ghép gan đầu tiên đến làm chủ kỹ thuật
Ghép gan là kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên ngành, từ đánh giá người hiến, lựa chọn người nhận, phẫu thuật lấy và ghép gan đến hồi sức, theo dõi sau ghép. Trong bối cảnh nhu cầu ghép tạng ngày càng tăng, nguồn tạng hiến còn hạn chế, việc phát triển kỹ thuật ghép gan từ người hiến chết não có ý nghĩa quan trọng trong điều trị các bệnh lý gan giai đoạn cuối.
Tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, chương trình ghép gan được khởi động từ năm 2000, với việc chủ trì đề tài nhánh ghép gan thực nghiệm trên lợn thuộc đề tài cấp nhà nước "Triển khai ghép gan".
Ngày 28/11/2007, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức phối hợp với các chuyên gia Bệnh viện Đại học Quốc gia Đài Loan thực hiện thành công ca ghép gan người lớn tại Việt Nam. Sau 18 năm, người bệnh vẫn khỏe mạnh và sinh hoạt bình thường. Tiếp đó, ngày 22/5/2010, bệnh viện thực hiện thành công ca ghép gan toàn bộ từ người hiến chết não, mở ra thêm cơ hội điều trị cho người bệnh mắc các bệnh lý gan giai đoạn cuối.
Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu, đến tháng 8/2025, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã thực hiện 155 ca ghép gan cho người bệnh mắc các bệnh lý như ung thư biểu mô tế bào gan, xơ gan, suy gan cấp… Tỷ lệ sống thêm sau 1, 3, 5 và 10 năm lần lượt đạt 95,2%, 83,3%, 82% và 74,8%.
Đáng chú ý, trong 12 năm đầu, bệnh viện thực hiện 81 ca ghép gan từ người hiến chết não, trung bình 6,75 ca mỗi năm. Giai đoạn 2022–2025, số ca ghép gan từ nguồn hiến này tăng lên 89 ca, trung bình 22,25 ca mỗi năm, cho thấy sự phát triển đáng kể của hoạt động ghép gan và công tác vận động hiến tạng.

Số ca ghép gan với người bệnh chết não từ năm 2022-2025 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và các bệnh viện trên toàn quốc.
Chuẩn hóa quy trình, nâng cao hiệu quả điều trị
Một nội dung nghiên cứu quan trọng của nhóm đề tài là ứng dụng ghép gan từ người hiến chết não trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan. Kết quả triển khai tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức ghi nhận người bệnh sau ghép hồi phục tốt, chức năng gan ghép ổn định và đáp ứng các tiêu chí chuyên môn trong điều trị bệnh lý này.
Trên cơ sở nghiên cứu, nhóm thực hiện đã xây dựng, hoàn thiện và chuẩn hóa quy trình ghép gan điều trị ung thư biểu mô tế bào gan, bao gồm lựa chọn chỉ định ghép, đánh giá người cho và người nhận, kỹ thuật lấy gan, ghép gan, theo dõi và điều trị sau ghép. Quy trình hiện được áp dụng thường quy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng trên 56 trường hợp ghép gan do ung thư biểu mô tế bào gan, trong đó có 47 ca ghép gan từ người hiến chết não và 9 ca từ người hiến sống. Kết quả cho thấy tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau ghép cao, kể cả ở nhóm bệnh nhân ngoài tiêu chuẩn Milan/UCSF, góp phần khẳng định tính khả thi của việc mở rộng chỉ định ghép gan ở những bệnh nhân phù hợp.
Bên cạnh đó, nhóm đề tài tập trung nghiên cứu, chuẩn hóa kỹ thuật phẫu thuật lấy gan và đánh giá chất lượng mảnh ghép từ người hiến chết não. Nghiên cứu được triển khai trong bối cảnh nguồn tạng hiến còn hạn chế, đặt ra yêu cầu tối ưu hóa kỹ thuật lấy và bảo quản gan nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tạng.
Công trình đã chuẩn hóa kỹ thuật lấy gan từ người hiến chết não, áp dụng cho cả trường hợp lấy gan đơn thuần và lấy đa tạng; đồng thời đánh giá chất lượng mảnh ghép về hình thái, chức năng sau ghép. Quy trình kỹ thuật được xây dựng, hoàn thiện với các bước thực hiện thống nhất, các điểm kiểm soát an toàn và tiêu chí đánh giá mảnh ghép trước và sau rửa.
Quy trình đã được áp dụng trên 52 trường hợp ghép gan từ người hiến chết não. Kết quả ghi nhận tỷ lệ biến chứng sau mổ là 28,85%, tỷ lệ người bệnh ra viện trong tình trạng tốt đạt 94,2%; không ghi nhận trường hợp rối loạn chức năng gan nguyên phát sau ghép.
Một hướng ứng dụng khác của nhóm đề tài là triển khai kỹ thuật ROTEM trong theo dõi và kiểm soát rối loạn đông máu khi ghép gan. ROTEM hỗ trợ cá thể hóa điều trị truyền máu, hạn chế sử dụng các chế phẩm máu không cần thiết và kiểm soát hiệu quả tình trạng tiêu sợi huyết. Kết quả cho thấy, ROTEM góp phần giảm 20–30% lượng chế phẩm máu sử dụng, giảm tỷ lệ biến chứng, rút ngắn thời gian điều trị hồi sức sau ghép. Kỹ thuật hiện được áp dụng thường quy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Các kết quả nghiên cứu của nhóm đề tài góp phần hoàn thiện quy trình ghép gan từ người hiến chết não, nâng cao hiệu quả điều trị và sử dụng nguồn tạng hiến. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để tiếp tục phát triển kỹ thuật ghép gan, mở rộng cơ hội điều trị cho người bệnh mắc các bệnh lý gan nặng tại Việt Nam.
Nhóm nhiệm vụ nghiên cứu về ghép gan từ người hiến chết não gồm 06 đề tài:
1. "Nghiên cứu thực nghiệm về ghép gan để thực hiện ghép gan trên người tại Việt Nam". Đề tài nhánh cấp Nhà nước. Nhánh đề tài độc lập cấp quốc gia (Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tiên tiến phục vụ ghép tạng ở Việt Nam).
2. "Quy trình lấy gan, bảo quản gan, ghép gan và theo dõi sau ghép gan lấy từ người chết não". Nhánh đề tài thuộc đề tài "Nghiên cứu triển khai ghép gan, thận lấy từ người cho chết não". Đề tài chương trình KC.10/06-10. Mã số: KC10.25/06-10.
3. Đặc điểm kỹ thuật của phẫu thuật lấy gan và đánh giá chất lượng mảnh ghép gan từ người chết não cho tạng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Mã số: TH03.2018.
4. Nghiên cứu một số đặc điểm đông cầm máu và xét nghiệm ROTEM trên bệnh nhân ghép gan từ người cho chết não tại Bệnh viện Việt Đức. Mã số: CLS09.2021.
5. Đánh giá nồng độ Tacrolimus trên bệnh nhân ghép gan tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ năm 2017 đến năm 2021. Mã số: CLS16/2022.
6. Đánh giá kết quả điều trị ghép gan do ung thư biểu mô tế bào gan tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Mã số: 2023.TH18.