Lộ trình triển khai 6 sản phẩm chiến lược
<p style="text-align: justify;">Thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Thông báo kết luận số 20-TB/CQTTBCĐ ngày 16/3/2026 đang đặt ra yêu cầu đẩy nhanh hơn nữa lộ trình phát triển công nghệ chiến lược theo hướng thực chất, có trọng tâm, trọng điểm. Trọng tâm xuyên suốt là vừa tạo lập các hạ tầng nền tảng mang tính chiến lược lâu dài, vừa tổ chức triển khai mạnh mẽ các chương trình công nghệ chiến lược gắn với tăng trưởng kinh tế, năng lực tự chủ công nghệ và hình thành các chuỗi giá trị mới của Việt Nam.</p>
Việc xây dựng hạ tầng nền tảng phải được xác định là nhiệm vụ chiến lược lâu dài của quốc gia, cần được quy hoạch và đầu tư bài bản, đồng bộ, tránh dàn trải, manh mún. Các Bộ, cơ quan, địa phương được yêu cầu khẩn trương rà soát nhiệm vụ để ưu tiên đầu tư hạ tầng dữ liệu quốc gia, các cơ sở dữ liệu lớn, nền tảng số dùng chung, hạ tầng nghiên cứu - phát triển, các phòng thí nghiệm trọng điểm, cũng như hạ tầng đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp. Cùng với đó, công nghệ chiến lược phải được triển khai theo hướng đi vào thực chất: xác định rõ công nghệ lõi cần làm chủ, đơn vị chịu trách nhiệm xuyên suốt, lộ trình thương mại hóa và khả năng lan tỏa kết quả vào phát triển kinh tế - xã hội.

Để cụ thể hóa định hướng này, Quyết định số 2815/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay. Theo đó, mục tiêu đến năm 2030 làm chủ công nghệ thiết kế, tích hợp, chế tạo, thử nghiệm và đưa vào ứng dụng 6 sản phẩm công nghệ chiến lược, gồm: Mô hình ngôn ngữ lớn và trợ lý ảo tiếng Việt; AI camera xử lý tại biên; robot di động tự hành; hệ thống và thiết bị mạng di động 5G; hạ tầng mạng blockchain và các lớp ứng dụng truy xuất nguồn gốc, tài sản mã hóa; thiết bị bay không người lái (UAV). Đây là những sản phẩm mở đường cho 11 nhóm công nghệ chiến lược quốc gia, có khả năng tác động nhanh đến phát triển kinh tế - xã hội, quản trị quốc gia, an ninh và quốc phòng.
Về cách làm, Bộ Khoa học và Công nghệ đang triển khai chương trình theo hướng kết hợp cơ chế tài trợ và đặt hàng, chuyển mạnh từ cách tiếp cận dàn trải sang tập trung giải các “bài toán lớn” của quốc gia. Các nhiệm vụ sẽ được hình thành từ nhu cầu thực tiễn của Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp; trên cơ sở đó tổ chức tuyển chọn hoặc giao trực tiếp cho doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và chuyển giao sản phẩm. Cách tiếp cận này đi cùng yêu cầu phát huy mô hình hợp tác “ba nhà” giữa Nhà nước, viện - trường và doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm của thương mại hóa.
Song song với cơ chế triển khai, hạ tầng phục vụ công nghệ chiến lược cũng đang được thúc đẩy. Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết giai đoạn 2026-2030 sẽ tập trung đầu tư, nâng cấp và vận hành hiệu quả hệ thống gồm 9 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và 3 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm tập trung phục vụ các công nghệ chiến lược; đồng thời trong năm 2026 tiếp tục đặt hàng các nhiệm vụ nghiên cứu công nghệ lõi gắn trực tiếp với nhu cầu sử dụng của cơ quan nhà nước, địa phương và thị trường. Cùng với đó là việc chuẩn hóa từng công nghệ chiến lược theo các trụ cột công nghệ lõi, hạ tầng và nhân lực để từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh.

Chip bán dẫn là một trong sáu sản phẩm chiến lược trọng điểm.
Về mục tiêu kết quả, Chương trình theo Quyết định 2815 đặt ra các chỉ tiêu đến năm 2030 như: Làm chủ tối thiểu 80% công nghệ lõi của các sản phẩm công nghệ chiến lược; tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa đạt tối thiểu 60% trong giá bán sản phẩm và 40% trong giá thành; đáp ứng tối thiểu 30% nhu cầu thị trường trong nước và có sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài. Đồng thời, Chương trình hướng tới hỗ trợ tối thiểu 30 doanh nghiệp và 10 viện nghiên cứu, trường đại học tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ lõi và sản phẩm chiến lược có khả năng cạnh tranh toàn cầu; hỗ trợ hình thành tối thiểu 3 ngành công nghiệp chiến lược mới. Kinh phí thực hiện được bảo đảm từ ngân sách nhà nước trong tổng số 15% chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp khoa học và công nghệ phục vụ nghiên cứu công nghệ chiến lược, cùng với nguồn lực từ doanh nghiệp và khu vực tư nhân.
Thực tế triển khai, nhiều doanh nghiệp trong nước đã bước đầu làm chủ công nghệ lõi và phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực AI camera như MK, Hanet, BKAV, CMC, VNPT đã làm chủ khoảng 65% công nghệ lõi với tỉ lệ nội địa hóa đạt trên 50%; Viettel làm chủ khoảng 85% công nghệ lõi mạng 5G; một số doanh nghiệp phát triển UAV đã làm chủ trên 70% công nghệ lõi và bước đầu xuất khẩu. Đây được xem là tín hiệu cho thấy lộ trình công nghệ chiến lược đang dần dịch chuyển từ chủ trương sang kết quả thực chất, tạo cơ sở để thúc đẩy thương mại hóa, mở rộng thị trường và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững của nền kinh tế.