Muốn làm chủ công nghệ chiến lược, phải gắn nghiên cứu với thị trường

<p style="text-align: justify;"><b><i>Robot, công nghệ y sinh, chip bán dẫn và vật liệu tiên tiến cùng các giải pháp công nghệ năng lượng tương lai có tiềm năng tạo động lực tăng trưởng mới, nhưng để biến kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, Việt Nam cần gắn kết chặt chẽ Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp, góp phần thu hẹp khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường trong phát triển công nghệ chiến lược.</i></b></p>

Đây là vấn đề được các đại biểu tập trung thảo luận tại Phiên thảo luận về chủ đề Thúc đẩy chuyển giao và ứng dụng công nghệ chiến lược phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, diễn ra ngày 05/11/2026, trong khuôn khổ Diễn đàn Mở rộng kết nối hợp tác KH,CN&ĐMST của Việt Nam với các nước (IRIFF 2026) do Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (NAFOSTED) tổ chức.

Muốn làm chủ công nghệ chiến lược, phải gắn nghiên cứu với thị trường - Ảnh 1.

Toàn cảnh Phiên thảo luận.

Thương mại hóa là phép thử của năng lực nghiên cứu

Phát biểu tại Phiên thảo luận, PGS.TS. Lê Anh Sơn, Giám đốc Đại học Phenikaa cho rằng, phát triển robot đòi hỏi sự tích hợp của nhiều công nghệ như cảm biến, trí tuệ nhân tạo, định vị và điều khiển. Đây là lĩnh vực không một tổ chức hay quốc gia nào có thể tự phát triển toàn diện. Tuy vậy, thách thức lớn không chỉ nằm ở năng lực nghiên cứu mà còn ở khả năng đưa kết quả ra thị trường.

Theo PGS.TS. Lê Anh Sơn, nhiều công trình, sáng chế chưa được khai thác hiệu quả do khác biệt trong tư duy giữa nhà khoa học và đơn vị triển khai. Doanh nghiệp cũng thiếu nguồn lực để hoàn thiện kỹ thuật, tiêu chuẩn hóa, chứng nhận, tổ chức sản xuất và tiếp cận khách hàng.

Từ kinh nghiệm tại Phenikaa, PGS.TS. Lê Anh Sơn đề xuất xây dựng hệ sinh thái liên kết giữa đại học, doanh nghiệp và đối tác quốc tế. Trong đó, đại học đảm nhiệm nghiên cứu, phát triển công nghệ; doanh nghiệp spin-off tiếp nhận kết quả để hoàn thiện sản phẩm; các công ty trong tập đoàn trở thành khách hàng đầu tiên, tạo môi trường thử nghiệm trước khi mở rộng thị trường.

Công nghệ định vị và xây dựng bản đồ PNKX-LOC (Phenikaa Loc) là một ví dụ. Từ nghiên cứu nhận diện vật thể 3D và xây dựng bản đồ độ phân giải cao, công nghệ được chuyển giao cho doanh nghiệp phát triển thành sản phẩm ứng dụng trên phương tiện và robot.

Với robotaxi, Phenikaa hướng tới phát triển nền tảng phù hợp điều kiện giao thông Việt Nam, nơi xe máy chiếm tỷ lệ lớn và hành vi tham gia giao thông phức tạp. Hệ thống có khả năng nhận diện tới 300 đối tượng trong một khung hình, dự đoán hướng di chuyển và kết hợp dữ liệu từ nhiều cảm biến để hỗ trợ điều khiển phương tiện.

Muốn làm chủ công nghệ chiến lược, phải gắn nghiên cứu với thị trường - Ảnh 2.

PGS.TS. Lê Anh Sơn, Giám đốc Đại học Phenikaa phát biểu tại Phiên thảo luận.

Ở lĩnh vực y sinh, PGS.TS.BS. Phạm Văn Hùng, Chủ tịch Công ty TNHH Vắc xin và Sinh phẩm số 1 (VABIOTECH) cho rằng, Việt Nam đã có nền tảng chính sách thúc đẩy công nghệ sinh học, chuyển giao công nghệ và phát triển sản phẩm y tế. Những hướng ưu tiên gồm vaccine thế hệ mới, liệu pháp tế bào, thiết bị y tế, vật liệu sinh học và công nghệ in 3D trong y học.

Tuy nhiên, để làm chủ các công nghệ này, cần cơ chế phối hợp thực chất giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Những hạn chế về vốn, hạ tầng phòng thí nghiệm, trang thiết bị sản xuất, dữ liệu, quy trình thử nghiệm và nhân lực chất lượng cao vẫn là những rào cản cần được giải quyết đồng bộ.

Muốn làm chủ công nghệ chiến lược, phải gắn nghiên cứu với thị trường - Ảnh 3.

PGS.TS.BS. Phạm Văn Hùng, Chủ tịch Công ty TNHH Vắc xin và Sinh phẩm số 1 (VABIOTECH) phát biểu tại Phiên thảo luận.

Chia sẻ hạ tầng, doanh nghiệp tham gia từ đầu

Trong lĩnh vực vật liệu tiên tiến, TS. Đào Nguyên Thuận, Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam cho biết, các hướng nghiên cứu đang được triển khai đa dạng, từ vật liệu nano, vật liệu từ tính, graphene, cảm biến đến vật liệu phục vụ năng lượng và công nghiệp.

Một số kết quả đã được ứng dụng trong thực tiễn như vật liệu nano trong y sinh, cảm biến khí và nhiệt độ cao, lớp phủ bảo vệ thiết bị công nghiệp, lớp phủ phản xạ năng lượng mặt trời và chống hà cho tàu biển. Đáng chú ý, sản phẩm lớp phủ chống hà đạt doanh thu khoảng 500.000 USD mỗi năm, cho thấy tiềm năng thương mại hóa khi nghiên cứu giải quyết được nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp.

Dù vậy, theo TS. Đào Nguyên Thuận, từ nghiên cứu cơ bản đến sản phẩm thương mại vẫn là chặng đường dài. Công nghệ cần được kiểm chứng, đánh giá và hoàn thiện qua các quy mô thử nghiệm trước khi sản xuất. Vì vậy, doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xác định bài toán nghiên cứu, thay vì chỉ tiếp nhận kết quả ở giai đoạn cuối.

TS. Đào Nguyên Thuận đề xuất phát triển các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, được đầu tư dài hạn khoảng 10-15 năm, với hạ tầng dùng chung cho nhà khoa học từ nhiều viện, trường. Mô hình này giúp tránh phân tán nguồn lực, thu hút chuyên gia quốc tế và thúc đẩy nghiên cứu liên ngành.

Muốn làm chủ công nghệ chiến lược, phải gắn nghiên cứu với thị trường - Ảnh 4.

TS. Đào Nguyên Thuận, Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam phát biểu tại Phiên thảo luận.

Bên cạnh robot, y sinh và vật liệu tiên tiến, phiên thảo luận cũng đề cập các giải pháp năng lượng tương lai, trong đó có công nghệ sạc hai chiều tích hợp trên xe điện, cho phép phương tiện tham gia hệ thống năng lượng phân tán. Các đại biểu đồng thời trao đổi về hợp tác quốc tế trong chuyển giao công nghệ và ứng dụng chip bán dẫn tại Việt Nam.

Những ý kiến tại Phiên thảo luận cho thấy, làm chủ công nghệ chiến lược không chỉ là bài toán năng lực nghiên cứu mà còn là khả năng kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Khi doanh nghiệp tham gia từ khâu đặt hàng, thử nghiệm đến hoàn thiện sản phẩm, còn Nhà nước tạo cơ chế và viện, trường cung cấp nền tảng tri thức, kết quả nghiên cứu mới có thể chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế - xã hội.