Nghị quyết 80-NQ/TW: Đưa công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 9% GDP

<p style="text-align: justify;">Với mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo đóng góp khoảng 9% GDP vào năm 2045, Nghị quyết số 80-NQ/TW mở ra định hướng phát triển mới, trong đó văn hóa được xác định là nguồn lực nội sinh và động lực tăng trưởng của đất nước.</p>

Theo Nghị quyết 80-NQ/TW, đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa phấn đấu đóng góp khoảng 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia trong các lĩnh vực có tiềm năng như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang.

Đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo trở thành một trong những trụ cột của phát triển bền vững, đóng góp khoảng 9% GDP; đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm công nghiệp văn hóa và sáng tạo năng động của khu vực.

Các chỉ tiêu này mở ra không gian phát triển mới cho những lĩnh vực giàu tiềm năng như điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế, thời trang, thủ công truyền thống, ẩm thực, du lịch văn hóa, trò chơi điện tử, phần mềm và nội dung số. 

Khi được đầu tư bài bản, có thị trường, công nghệ và cơ chế bảo vệ bản quyền hiệu quả, các sản phẩm văn hóa có thể tạo ra giá trị kinh tế lớn hơn, đồng thời lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.

Nghị quyết 80-NQ/TW: Đưa công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 9% GDP vào năm 2045 - Ảnh 1.

Công nghiệp văn hóa được kỳ vọng trở thành không gian tăng trưởng mới, góp phần nâng cao sức cạnh tranh và sức mạnh mềm của Việt Nam. 

Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết 80-NQ/TW, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh, Nghị quyết được ban hành trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đòi hỏi những quyết sách chiến lược, đồng bộ để phát triển nhanh và bền vững.

Theo đồng chí Trịnh Văn Quyết, thế giới hiện nay chứng kiến sự cạnh tranh ngày càng rõ nét giữa các nền văn hóa, trong đó có cạnh tranh về giá trị và ảnh hưởng của công nghiệp văn hóa. Vì vậy, phát triển văn hóa Việt Nam không chỉ dừng ở bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống, mà còn phải nâng cao năng lực sáng tạo, lan tỏa giá trị và khẳng định vị thế quốc gia.

Để hiện thực hóa định hướng trên, Nghị quyết xác định phát triển công nghiệp văn hóa phải đi cùng hoàn thiện thể chế, mở rộng thị trường và khơi thông nguồn lực xã hội. Doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo và giải trí được coi là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo văn hóa.

Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu hình thành các cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hóa, trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và không gian sáng tạo nội dung số. Đây là cơ sở để các sản phẩm văn hóa được sản xuất, phân phối và thương mại hóa chuyên nghiệp hơn.

Đặc biệt, công nghiệp văn hóa phải gắn chặt với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trọng tâm là xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, phát triển nền tảng số dùng chung, số hóa di sản văn hóa; ứng dụng công nghệ mới trong sáng tạo, phân phối, tiêu dùng sản phẩm văn hóa và bảo vệ bản quyền.

Nghị quyết 80-NQ/TW: Đưa công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 9% GDP vào năm 2045 - Ảnh 2.

Khoa học công nghệ và chuyển đổi số mở ra không gian mới cho phát triển công nghiệp văn hóa.

Bên cạnh đó, nghị quyết còn đặt ra mục tiêu phát triển sàn giao dịch sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, trong đó có tài sản số; đồng thời phấn đấu đến năm 2045, Việt Nam nằm trong nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa.