Những thành tựu y học mở thêm cơ hội sống cho người bệnh
<p style="text-align: justify;">Làm chủ kỹ thuật ghép tạng, nâng cao năng lực chẩn đoán bệnh hô hấp và cải thiện chăm sóc sức khỏe sinh sản là những thành tựu tiêu biểu của các công trình được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Giá trị của nghiên cứu được thể hiện qua khả năng ứng dụng, chuyển giao kỹ thuật và đưa dịch vụ y tế đến gần người dân.</p>
Một kết quả nghiên cứu y học chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi được đưa vào thực hành, giúp phát hiện bệnh, nâng cao hiệu quả điều trị hoặc mở thêm phương án cứu chữa. Những công trình được tôn vinh qua các đợt xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho thấy quá trình tích lũy năng lực của y học Việt Nam: từ tiếp cận kỹ thuật mới đến xây dựng quy trình, đào tạo nhân lực và triển khai tại nhiều cơ sở.
Ba cụm công trình về ghép tạng, bệnh hô hấp và sức khỏe sinh sản phản ánh những hướng đóng góp khác nhau. Có nghiên cứu đặt nền móng cho một chuyên ngành; có công trình kết nối kỹ thuật chuyên sâu với quản lý bệnh tại cộng đồng; có kết quả hướng đến những vùng còn hạn chế về điều kiện chăm sóc y tế.
Ghép tạng: từ ca phẫu thuật đầu tiên đến chuyển giao kỹ thuật
Cụm công trình ghép tạng được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005 là một dấu mốc trong hành trình phát triển kỹ thuật chuyên sâu. Bệnh viện Quân y 103 và Học viện Quân y có vai trò quan trọng trong cụm công trình, với những thành công mở đường cho chuyên ngành ghép tạng trong nước.
Ngày 4/6/1992, ca ghép thận đầu tiên của Việt Nam được thực hiện thành công tại Bệnh viện Quân y 103, với sự hỗ trợ của chuyên gia quốc tế. Năm 2004, ca ghép gan đầu tiên tiếp tục được thực hiện tại đây. Những kết quả này tạo cơ sở để đội ngũ thầy thuốc tiếp tục tích lũy kinh nghiệm, phát triển chuyên môn và mở rộng ứng dụng.
Thành tựu ghép tạng cần được nhìn trong toàn bộ quá trình chuẩn bị và chăm sóc người bệnh. Phẫu thuật là một khâu quan trọng, gắn với tuyển chọn, đánh giá trước ghép, gây mê hồi sức và theo dõi sau ghép. Việc phối hợp được các chuyên môn ấy phản ánh năng lực tổ chức điều trị của cơ sở y tế.

Cụm công trình của Nhóm tác giả Trường Đại học Y Dược Huế đạt “Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Công nghệ” đợt 6 năm 2021.
Sau những ca ghép đầu tiên, kỹ thuật tiếp tục được chuyển giao tới nhiều bệnh viện trong và ngoài quân đội. Kinh nghiệm của cơ sở tiên phong từng bước trở thành năng lực của nhiều đơn vị, giúp mở rộng phạm vi ứng dụng. Đây là giá trị lâu dài của một công trình nghiên cứu: kết quả được tiếp nối bằng hoạt động đào tạo và thực hành.
Hai quy trình ghép thận và ghép gan từ người cho sống do một đồng tác giả của cụm công trình xây dựng được Bộ Y tế ban hành tháng 12/2006. Việc hình thành quy trình chuyên môn góp phần hệ thống hóa kinh nghiệm, tạo cơ sở triển khai kỹ thuật.
Bệnh hô hấp: kết nối chẩn đoán, điều trị và quản lý cộng đồng
Cụm công trình “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong chẩn đoán, điều trị bệnh đường hô hấp” của PGS.TS Nguyễn Viết Nhung cùng 22 đồng tác giả được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt sáu, trao tại lễ tháng 11/2022. Công trình bao quát nhiều vấn đề của chuyên ngành hô hấp, trong đó có phát hiện và điều trị bệnh lao.
Một kết quả quan trọng là cung cấp bằng chứng khoa học cho phương thức phát hiện chủ động tại cộng đồng, làm tiền đề cho chiến lược kết hợp chụp X-quang phổi để sàng lọc và xét nghiệm Xpert để xác định bệnh lao.
Các nghiên cứu còn đóng góp vào phát triển phác đồ điều trị, chẩn đoán tổn thương phổi và xây dựng mạng lưới quản lý bệnh phổi mạn tính. Những dụng cụ phục vụ sinh thiết phổi và định vị dưới chụp cắt lớp vi tính được phát triển, cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích và ứng dụng trong thực tế.
Từ các kết quả này, có thể thấy công trình tiếp cận bệnh hô hấp theo nhiều khâu liên quan. Phát hiện sớm giúp người bệnh được đánh giá và điều trị kịp thời; công cụ chẩn đoán hỗ trợ xác định tổn thương; quản lý tại cộng đồng góp phần duy trì quá trình theo dõi.
Sự kết nối ấy có ý nghĩa đối với việc đưa thành tựu chuyên môn ra ngoài phạm vi một bệnh viện. Kỹ thuật được tổ chức thành giải pháp có thể triển khai trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, với sự tham gia của cơ sở điều trị và mạng lưới cộng đồng. Đây là một phương diện quan trọng để nghiên cứu tạo tác động rộng hơn.
Sức khỏe sinh sản: giải pháp phù hợp với nguồn lực tại chỗ
Cụm công trình “Tối ưu hóa công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ ở vùng có nguồn lực hạn chế: từ nghiên cứu đến triển khai ứng dụng” của GS.TS Cao Ngọc Thành và sáu đồng tác giả cũng được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt sáu.
Công trình gồm ba nhóm nghiên cứu: sàng lọc và can thiệp dự phòng tiền sản giật, sản giật; cải thiện chăm sóc sức khỏe phụ nữ tại cộng đồng; triển khai phương pháp điều trị vô sinh, hiếm muộn. Kết quả được kết hợp với đào tạo và chuyển giao kỹ thuật cho các tuyến y tế.
Trong chăm sóc thai kỳ, nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo tiền sản giật sớm và đánh giá các biện pháp dự phòng có tính khả thi trong điều kiện Việt Nam. Kết quả được tham khảo để xây dựng hướng dẫn sàng lọc, dự phòng tiền sản giật do Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số 1911/QĐ-BYT ngày 19/4/2021.
Ở lĩnh vực cộng đồng, nghiên cứu đưa ra giải pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung phù hợp với tuyến huyện, xã và cải thiện chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ dân tộc thiểu số.
Điểm nổi bật là sự gắn kết giữa yêu cầu chuyên môn và điều kiện triển khai. Một giải pháp có giá trị cần được lựa chọn, tổ chức phù hợp với nguồn lực nơi ứng dụng. Khi kết quả nghiên cứu đi cùng đào tạo và chuyển giao, khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân có thêm điều kiện được cải thiện.
Ba cụm công trình cho thấy thành tựu y học được thể hiện ở nhiều quy mô: kỹ thuật cứu chữa chuyên sâu, giải pháp quản lý bệnh và phương thức chăm sóc phù hợp với địa phương. Những kết quả ấy tiếp tục được phát huy qua quy trình chuyên môn, nhân lực được đào tạo và mạng lưới ứng dụng.