Nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện, mở sinh kế cho người dân A Lưới
<p style="text-align: justify;">Tận dụng mặt nước lòng hồ thủy điện A Lưới, nhiều hộ dân miền núi tại xã A Lưới 3, thành phố Huế phát triển nghề nuôi cá lồng, tạo nguồn thu hàng chục triệu đồng mỗi năm. Từ những mô hình sản xuất ban đầu, việc ứng dụng kỹ thuật nuôi thủy sản, quản lý môi trường nước và tổ chức tiêu thụ đang trở thành yêu cầu quan trọng để phát triển sinh kế bền vững.</p>
Từ những lồng cá đầu tiên đến nguồn thu ổn định
Xã A Lưới 3 được hình thành sau khi sắp xếp các xã Hồng Thượng, Hồng Thái, Phú Vinh và Sơn Thủy.
Với diện tích tự nhiên hơn 154 km² và hệ thống mặt nước lòng hồ thủy điện, là điều kiện thuận lợi để địa phương có thể phát triển nghề nuôi thủy sản nước ngọt. Đây cũng là hướng sản xuất được người dân A Lưới tìm hiểu, triển khai từ nhiều năm trước.
Gia đình anh Hồ Văn Khiếp, thôn Tu Vây, là một trong những hộ chủ động phát triển mô hình nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện.
Năm 2023, anh Khiếp đầu tư lồng nuôi rộng khoảng 25 m², thả hơn 350 con cá trắm. Với đặc tính của cá trắm cỏ, gia đình tận dụng nguồn cỏ tự nhiên làm thức ăn, giảm đáng kể chi phí trong quá trình chăm sóc.

Việc nuôi cá lồng, thêm điều kiện phát triển sinh kế ổn định, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân vùng cao.
Sau hơn một năm nuôi, lứa cá đầu tiên mang lại lợi nhuận trên 20 triệu đồng. Đối với một hộ dân vùng cao, đây là nguồn thu đáng kể, nhất là khi mô hình không đòi hỏi phải chuyển đổi thêm diện tích đất sản xuất.
Anh Khiếp cho biết, so với nuôi lợn, gà, cá trắm có lợi thế về nguồn thức ăn sẵn có, trong khi điều kiện nước lòng hồ thuận lợi cho cá sinh trưởng. Việc tiêu thụ vào dịp Tết cũng khá thuận lợi, tạo động lực để gia đình tính toán mở rộng quy mô.
Từ hiệu quả bước đầu của một số hộ, mô hình nuôi cá lồng được người dân thôn Tu Vây quan tâm. Đến cuối năm 2025, thôn Tu Vây đã có 6 hộ tham gia với tổng số 11 lồng nuôi và bước đầu cho thấy khả năng khai thác lợi thế tự nhiên để phát triển sản xuất tại vùng cao.
Tuy vậy, mức đầu tư từ 12–14 triệu đồng cho mỗi lồng vẫn là khoản vốn cần cân nhắc đối với nhiều gia đình. Việc mở rộng sản xuất vì vậy phải gắn với khả năng chăm sóc, nguồn thức ăn và thị trường tiêu thụ.
Tại thôn A Đâng, gia đình chị Hồ Thị Lè có quá trình phát triển nghề nuôi cá lồng từ năm 2018. Ban đầu, chị vay 60 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội để đầu tư hai lồng nuôi cá trắm.
Sau những vụ nuôi có hiệu quả, gia đình tiếp tục dành một phần lợi nhuận để tái đầu tư. Đến năm 2025, số lồng nuôi đã tăng lên 11, với các loại cá trắm, cá trê, rô phi, cá lăng và cá diêu hồng. Từ mô hình này, gia đình chị Lè thu lợi nhuận hơn 50 triệu đồng/năm sau khi trừ chi phí. Nguồn thu từ nuôi cá giúp gia đình ổn định cuộc sống, không còn phải đi làm thuê như trước. Điểm đáng chú ý trong cách làm của chị Lè là không mở rộng sản xuất ngay từ đầu, mà từng bước tích lũy kinh nghiệm, sử dụng lợi nhuận để tăng quy mô và đa dạng đối tượng nuôi.
Nếu gia đình anh Khiếp lựa chọn cá trắm để tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, thì mô hình của chị Lè cho thấy khả năng phát triển sản xuất với nhiều loại cá nước ngọt. Mỗi cách làm đều đòi hỏi người nuôi phải tính toán về vốn, thời gian chăm sóc và thời điểm thu hoạch.
Từ những trường hợp cụ thể, nghề nuôi cá lồng đang tạo thêm lựa chọn sinh kế cho người dân tại các thôn ven lòng hồ, nơi điều kiện đất canh tác còn hạn chế.
Ứng dụng kỹ thuật để nâng cao hiệu quả nuôi cá lồng
Nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện có những yêu cầu khác với nuôi cá trong ao, hồ nhỏ. Người nuôi phải quan tâm đến vị trí đặt lồng, kết cấu lồng, mật độ thả giống, chế độ cho ăn và khả năng biến động mực nước theo mùa.

Việc phát triển nghề nuôi cá nước ngọt tại địa phương phản ánh yêu cầu phải lựa chọn kỹ thuật, phương thức nuôi và thời vụ phù hợp với điều kiện tự nhiên.
Đặc biệt, thời tiết miền núi và hoạt động điều tiết hồ chứa có thể ảnh hưởng đến điều kiện nuôi. Nếu lồng đặt ở vị trí không phù hợp hoặc không được neo giữ chắc chắn, người dân có thể đối mặt với nguy cơ hư hỏng lồng, thất thoát cá trong mùa mưa lũ.
Những khó khăn này từng được ghi nhận tại A Lưới. Năm 2020, ngành nông nghiệp địa phương thống kê hoạt động nuôi cá chịu thiệt hại lớn do các đợt bão, lũ, với diện tích bị ảnh hưởng 67,3 ha và sản lượng cá thất thoát khoảng 120 tấn.
Cũng trong giai đoạn này, nghề nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện A Lưới mới ở bước đầu phát triển, với 7 hộ tại khu vực Sơn Thủy và Hồng Thái tham gia nuôi 40 lồng. Cá giống khi thả có trọng lượng khoảng 0,5-1 kg/con, sau 7 tháng đạt khoảng 2,5-3 kg/con.
Những số liệu trên cho thấy tiềm năng phát triển nghề nuôi cá nước ngọt tại địa phương, đồng thời phản ánh yêu cầu phải lựa chọn kỹ thuật, phương thức nuôi và thời vụ phù hợp với điều kiện tự nhiên.
Đối với mô hình nuôi cá lồng, kỹ thuật không chỉ nằm ở việc lựa chọn giống hay cho ăn, mà còn liên quan trực tiếp đến quản lý môi trường nước, theo dõi sức khỏe đàn cá, vệ sinh lồng và chủ động phòng ngừa dịch bệnh. Khi quy mô sản xuất tăng, việc sử dụng thức ăn hợp lý, kiểm soát mật độ nuôi và tổ chức thu hoạch theo nhu cầu thị trường càng có ý nghĩa đối với hiệu quả kinh tế.
Từ thực tiễn tại A Lưới 3, Bí thư Đảng ủy xã Hồ Đàm Giang đánh giá nuôi cá lồng là mô hình phù hợp với điều kiện địa phương, tận dụng được mặt nước trong khi đất canh tác còn hạn chế. Quan trọng hơn, mô hình góp phần khuyến khích người dân chủ động phát triển sinh kế.
Để phát huy kết quả, địa phương định hướng nhân rộng mô hình tại những thôn có điều kiện mặt nước phù hợp, đồng thời phối hợp tổ chức tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ người dân tiếp cận vốn vay ưu đãi và kết nối thị trường tiêu thụ.
Đây là những giải pháp cần thiết khi nghề nuôi cá lồng chuyển từ quy mô hộ gia đình sang hướng sản xuất hàng hóa. Việc tăng số lượng lồng nuôi phải đi cùng khả năng quản lý kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm, tránh mở rộng theo phong trào.
Bên cạnh đó, địa phương cũng đặt mục tiêu từng bước xây dựng thương hiệu cá nước ngọt A Lưới, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Để hiện thực hóa định hướng này, chất lượng sản phẩm, tổ chức sản xuất và liên kết giữa các hộ nuôi cần được chú trọng ngay từ giai đoạn phát triển mô hình.
Từ hai lồng cá ban đầu của gia đình chị Hồ Thị Lè đến mô hình của anh Hồ Văn Khiếp và các hộ dân thôn Tu Vây, nghề nuôi cá lồng đã cho thấy hiệu quả kinh tế tại vùng lòng hồ thủy điện A Lưới.
Kết quả bước đầu cũng đặt ra yêu cầu tăng cường hướng dẫn, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong nuôi thủy sản, nhất là quản lý môi trường nước, phòng ngừa dịch bệnh và thích ứng với điều kiện thời tiết miền núi.
Khi kỹ thuật sản xuất được gắn với nguồn vốn và thị trường tiêu thụ, nuôi cá lồng có thêm điều kiện phát triển thành sinh kế ổn định, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân vùng cao.