Phát triển chế phẩm sinh học từ vi khuẩn tía quang hợp góp phần nâng cao hiệu quả nuôi tôm thẻ chân trắng

<p style="text-align: justify;">Khai thác các chủng vi khuẩn tía quang hợp bản địa để cải thiện chất lượng nước, bổ sung dinh dưỡng và phòng bệnh cho tôm nuôi là hướng nghiên cứu được các nhà khoa học Việt Nam triển khai nhằm giảm phụ thuộc vào hóa chất và kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản. Kết quả nghiên cứu đã tạo ra chế phẩm sinh học đa chức năng có khả năng xử lý môi trường ao nuôi, tăng sức khỏe vật nuôi và hỗ trợ phòng bệnh hoại tử gan tụy cấp trên tôm thẻ chân trắng.</p>

Đây là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia "Nghiên cứu phát triển chế phẩm sinh học từ các chủng vi khuẩn tía quang hợp bản địa để cải thiện chất lượng nước, bổ sung dinh dưỡng và phòng bệnh hoại tử gan tụy cấp trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)", mã số ĐTĐL.CN-101/21, do TS. Hoàng Thị Yến làm chủ nhiệm, Viện Sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì thực hiện từ tháng 10/2021 đến tháng 9/2025.

Mục tiêu của nhiệm vụ là tạo ra chế phẩm sinh học từ các chủng vi khuẩn tía quang hợp bản địa nhằm giảm ô nhiễm nước, bổ sung dinh dưỡng và phòng bệnh hoại tử gan tụy cấp trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng.

Theo báo cáo tự đánh giá, nhóm nghiên cứu đã hoàn thành các sản phẩm theo thuyết minh, bao gồm bộ chủng giống vi khuẩn tía quang hợp không lưu huỳnh, hệ thống thiết bị sản xuất chế phẩm vi sinh, chế phẩm sinh học dạng dung dịch, quy trình tạo sinh khối vi khuẩn tía quang hợp, quy trình hướng dẫn sử dụng chế phẩm, hồ sơ chế phẩm sinh học, các công bố khoa học trong nước và quốc tế, đồng thời đăng ký 01 giải pháp hữu ích.

Một trong những kết quả nổi bật của nhiệm vụ là phát triển thành công chế phẩm sinh học PNSB:02 - chế phẩm đa chức năng được tạo từ 05 chủng vi khuẩn tía quang hợp bản địa. Chế phẩm có mật độ vi khuẩn đạt ≥10⁹ CFU/mL, vừa có khả năng cải thiện chất lượng nước ao nuôi thông qua giảm các chất độc như COD, NH₄, NO₂, NO₃ và H₂S, vừa bổ sung dinh dưỡng với hàm lượng lipid trên 20% trọng lượng khô, đồng thời hỗ trợ phòng bệnh hoại tử gan tụy cấp do vi khuẩn Vibrio. Theo nhóm nghiên cứu, giá thành sản phẩm chỉ khoảng một nửa so với các chế phẩm cùng nguồn gốc và công dụng đang có trên thị trường.

Trong quá trình triển khai, nhóm nghiên cứu đã thực hiện đồng bộ các nội dung từ phân lập, tuyển chọn các chủng vi khuẩn, nghiên cứu đặc điểm sinh học, sử dụng gen 16S rRNA và giải trình tự hệ gen để phân loại chủng, xây dựng quy trình sản xuất chế phẩm, thiết kế và chế tạo hệ thống thiết bị sản xuất, đến thử nghiệm chế phẩm trong mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở điều kiện thực địa. Các kết quả nghiên cứu cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và hộ nuôi trồng thủy sản.

Phát triển chế phẩm sinh học từ vi khuẩn tía quang hợp góp phần nâng cao hiệu quả nuôi tôm thẻ chân trắng - Ảnh 1.

Chế phẩm vi khuẩn tía quang hợp dạng lỏng sệt.

Đáng chú ý, nhiệm vụ đã phát hiện và công bố 02 loài vi khuẩn tía quang hợp mới, được đặt tên là Rhodovulum sp. HP10 và Afifella sp. PY35, góp phần bổ sung dữ liệu về đa dạng vi sinh vật và tạo nguồn vật liệu sinh học mới phục vụ nghiên cứu, phát triển các chế phẩm vi sinh trong tương lai.

Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, việc sử dụng chế phẩm PNSB:02 giúp giảm chi phí sản xuất nhờ hạn chế sử dụng kháng sinh và hóa chất xử lý môi trường, đồng thời tăng sức đề kháng của tôm nuôi, giảm tỷ lệ mắc bệnh và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi. Sản phẩm còn góp phần bảo vệ môi trường nhờ giảm ô nhiễm nước, hạn chế phát sinh chất thải độc hại và hướng tới phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng xanh, bền vững.

Báo cáo cũng cho thấy kết quả nghiên cứu mang lại nhiều ý nghĩa xã hội khi góp phần nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm thủy sản, giảm phụ thuộc vào hóa chất trong sản xuất, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và cải thiện thu nhập cho người nuôi tôm. Việc ứng dụng các chế phẩm sinh học thân thiện với môi trường còn giúp phục hồi hệ vi sinh trong ao nuôi, giảm tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam.