Phát triển công nghiệp văn hóa theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW

<p style="text-align: justify;">Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt văn hóa ở vị trí trung tâm trong mối quan hệ hữu cơ với kinh tế, khoa học và công nghệ. Trong kỷ nguyên số, phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ đơn thuần là việc tăng sản lượng sản phẩm giải trí, mà là quá trình chuyển hóa sâu sắc sang mô hình "phát triển kinh tế văn hóa dựa trên sáng tạo và tri thức".</p>

Phát triển công nghiệp văn hóa theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW- Ảnh 1.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa

 

Chuyển tư duy từ "làm văn hóa" sang "kinh tế văn hóa"

Tại Hội thảo "Triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW - Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số" được tổ chức mới đây, các nhà quản lý và chuyên gia đã thẳng thắn nhận diện những cơ hội lớn và các điểm nghẽn thực tại của ngành. 

Theo tiến sĩ Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa, thay đổi có ý nghĩa chiến lược là "Công nghiệp văn hóa không thể được hiểu đơn thuần là sự gia tăng số lượng sản phẩm văn hóa, mà phải được nhìn nhận như một hệ sinh thái, nơi sáng tạo, công nghệ, vốn, thị trường và quản trị cùng tương tác để tạo ra giá trị mới". Mục tiêu cốt lõi là nâng tầm giá trị truyền thống bằng công nghệ hiện đại để tạo khả năng lan tỏa quốc tế, chứ không phải thương mại hóa giản đơn hay đánh đổi bản sắc để chạy theo thị hiếu nhất thời.

Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Văn Tới khẳng định phát triển công nghiệp văn hóa chính là bước chuyển dứt khoát từ tư duy "làm văn hóa" truyền thống sang "phát triển kinh tế văn hóa". Kho tàng di sản và bản sắc 54 dân tộc chính là "nguồn nguyên liệu" khổng lồ cho nội dung số, game và điện ảnh. Một di sản nếu được số hóa tốt sẽ ngay lập tức trở thành tài sản số, phục vụ giáo dục, truyền thông và tạo ra giá trị thương mại lớn.

Tuy nhiên, hội thảo cũng chỉ rõ những rào cản lớn: hệ thống pháp luật chưa theo kịp tốc độ của công nghệ; các lĩnh vực như dữ liệu văn hóa, AI và bảo vệ bản quyền số vẫn thiếu hành lang pháp lý; doanh nghiệp văn hóa trong nước phần lớn có quy mô nhỏ và đặc biệt khan hiếm nguồn nhân lực liên ngành, những chuyên gia vừa am hiểu nghệ thuật vừa thành thạo các công cụ công nghệ cao như dữ liệu lớn (Big Data) hay AI.

Bài học từ Hàn Quốc

Trong 10 năm qua, nội dung Hàn Quốc là ví dụ điển hình cho sự tăng trưởng thần tốc. Ngành này nhanh chóng phát triển một lượng người hâm mộ khổng lồ trên toàn thế giới, đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc trên các bảng xếp hạng và lễ trao giải toàn cầu.

Giáo sư Aiden J. Hwang (Đại học Dongguk, Hàn Quốc) đã chỉ ra một số rào cản đối với mô hình này phát triển nội dung của Hàn Quốc, đó là cấu trúc sở hữu trí tuệ (IP).

Hàn Quốc đã nếm trải bài học đắt giá khi phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn vốn và hạ tầng phân phối của các nền tảng xuyên biên giới. Ví dụ điển hình là bộ phim hoạt hình "KPop Demon Hunters" do Sony Pictures Animation sản xuất và Netflix phân phối. Dù tác phẩm này trở thành một siêu phẩm ăn khách toàn cầu, nhưng phía Hàn Quốc lại rơi vào nghịch lý "giữ được nội dung nhưng mất đi tài sản và quyền kiểm soát IP gốc" vào tay các tập đoàn nước ngoài. Từ đó, Hàn Quốc bắt buộc phải tái thiết kế lại toàn ngành, tập trung vào mô hình doanh thu đa tầng (one-source multi-use): phát triển các IP gốc từ truyện tranh (webtoon), tiểu thuyết mạng để chủ động mở rộng sang phim truyền hình, game và biểu diễn nhằm giữ dòng lợi nhuận ở lại trong nước.

Một ví dụ cụ thể khác là việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh trong sáng tạo nội dung số tại Hàn Quốc năm nay. Công nghệ AI giúp tối đa hóa hiệu suất sản xuất và giảm chi phí, nhưng đồng thời làm mờ đi ranh giới bản quyền. Giáo sư Aiden J. Hwang lưu ý rằng, thị trường quốc tế hiện nay không còn chỉ thỏa mãn với "sự hoàn hảo kỹ thuật" của nội dung, mà họ bắt đầu khắt khe đánh giá cả thái độ đạo đức, giá trị nhân văn và triết lý tự sự ẩn sau công nghệ số đó. Công nghệ là công cụ hỗ trợ hiệu quả, nhưng chiều sâu cảm xúc của con người mới là yếu tố quyết định.

Tham khảo kinh nghiệm quốc tế, việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW đòi hỏi ngành KHCN cần đồng hành thiết lập những bước đi mang tính nền tảng. Đó là việc hoàn thiện hành lang pháp lý về bản quyền số để bảo vệ tài sản trí tuệ của các nhà sáng tạo Việt; đồng thời thúc đẩy các chương trình đào tạo liên ngành giữa công nghệ và nghệ thuật nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao.

KHCN đem lại công cụ giúp tăng tốc và tối ưu hóa hiệu suất, nhưng bản sắc và chiều sâu nhân văn mới là gốc rễ giữ cho dòng chảy văn hóa đi đúng hướng. Sự kết hợp hài hòa này sẽ giúp chúng ta từng bước xây dựng một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa nội địa bền vững, đưa các giá trị Việt Nam tự tin vươn tầm thế giới trong kỷ nguyên số.

Tổng hợp (báo Nhân Dân, Korea.net)