Thành tựu khoa học nâng năng lực làm chủ công nghệ dầu khí
<p style="text-align: justify;">Khai thác mỏ khí có điều kiện đặc biệt phức tạp, phát triển thiết bị địa vật lý giếng khoan và tối ưu hóa nhà máy lọc dầu là những thành tựu tiêu biểu của ngành dầu khí được tôn vinh bằng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ. Các công trình góp phần phát triển năng lực kỹ thuật trong nước và tạo hiệu quả kinh tế từ ứng dụng.</p>
Trong ngành dầu khí, giá trị của nghiên cứu được kiểm chứng bằng khả năng vận hành trong điều kiện khắt khe. Công nghệ phải đáp ứng yêu cầu an toàn, độ tin cậy và hiệu quả sản xuất. Ba công trình tại Hải Thạch–Mộc Tinh, Vietsovpetro và Nhà máy Lọc dầu Dung Quất cho thấy khả năng giải quyết những bài toán trọng yếu từ khai thác, thu nhận dữ liệu đến chế biến.
Hải Thạch-Mộc Tinh: chinh phục điều kiện khai thác phức tạp
Cụm công trình “Nghiên cứu, phát triển công nghệ để khai thác các mỏ khí - condensate với điều kiện đặc biệt phức tạp thềm lục địa Việt Nam” của TS Ngô Hữu Hải và 27 đồng tác giả được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt sáu. Công trình gắn với dự án Biển Đông 01 tại hai mỏ Hải Thạch và Mộc Tinh.
Những khó khăn của dự án bao gồm địa chất phức tạp, áp suất và nhiệt độ vỉa cao, điều kiện nước sâu và khoảng cách xa bờ. Nhóm nghiên cứu phát triển hệ thống giải pháp từ địa chất, địa vật lý đến khoan, hoàn thiện giếng, thiết kế công trình biển và quản lý vận hành mỏ.
Tổ hợp gồm 32 giải pháp, nhóm giải pháp và nhóm sáng kiến được áp dụng, góp phần xử lý những vấn đề then chốt trong phát triển và khai thác. Thành công của dự án thể hiện khả năng kết nối nhiều lĩnh vực kỹ thuật để giải quyết một bài toán công nghệ theo hệ thống.
Điều kiện áp suất khoảng 898 atm và nhiệt độ hơn 187°C đặt ra yêu cầu đặc biệt đối với thiết bị, cấu trúc giếng và tổ chức thi công. Quá trình triển khai đồng thời phát triển đội ngũ nhân sự Việt Nam đảm nhiệm những công việc chuyên môn có yêu cầu cao.
Ý nghĩa của công trình được thể hiện ở cả kết quả khai thác và năng lực hình thành trong quá trình thực hiện. Khi các giải pháp được kiểm chứng, kinh nghiệm kỹ thuật trở thành nền tảng để đội ngũ tiếp cận những nhiệm vụ tương tự. Tri thức tích lũy giúp giảm khoảng cách giữa yêu cầu thực tế và khả năng tổ chức thực hiện.
Những kinh nghiệm từ Biển Đông 01 được chia sẻ, áp dụng tại các dự án khác trong ngành. Việc phát triển và khai thác hiệu quả Hải Thạch–Mộc Tinh còn đóng góp cho an ninh năng lượng và nguồn thu của đất nước.
TBM-02 và LOGINTER 2.0: chủ động đo đạc, xử lý dữ liệu
Cụm công trình “Hệ thống trạm đo carota tổng hợp xách tay TBM-02 và bộ quy trình minh giải tài liệu địa vật lý LOGINTER 2.0” của kỹ sư Nguyễn Xuân Quang và 10 đồng tác giả được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt sáu. Đây là thành tựu nghiên cứu của đội ngũ tại Vietsovpetro trong lĩnh vực địa vật lý giếng khoan.
Công trình kết hợp thiết bị đo với quy trình xử lý và minh giải tài liệu. TBM-02 được thiết kế nhỏ gọn, phục vụ thu nhận dữ liệu; LOGINTER 2.0 giải quyết các vấn đề trong xử lý số liệu, góp phần chủ động công nghệ và nâng hiệu suất lao động.
Các giải pháp giúp giảm chi phí xử lý, minh giải và phát triển năng lực chế tạo thiết bị điện tử chuyên ngành dầu khí. Kết quả phục vụ trực tiếp công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác.
Thành tựu này có ý nghĩa đối với mối liên hệ giữa dữ liệu và quyết định chuyên môn. Thiết bị thu nhận thông tin, còn quá trình minh giải chuyển thông tin thành căn cứ phục vụ công việc. Phát triển đồng bộ hai khâu giúp đơn vị có thêm khả năng điều chỉnh giải pháp phù hợp với yêu cầu sản xuất.
Năng lực tự chủ cũng được thể hiện qua khả năng bảo trì, nâng cấp và tiếp tục hoàn thiện. Khi đội ngũ hiểu rõ thiết bị và phương pháp xử lý, những vấn đề phát sinh trong vận hành có thể trở thành đầu vào cho cải tiến. Nghiên cứu vì thế tiếp tục được phát triển từ chính môi trường ứng dụng.
Dung Quất: tạo hiệu quả từ tối ưu dây chuyền hiện hữu
Cụm công trình “Các giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ tối ưu hóa quá trình sản xuất của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của BSR” của kỹ sư Nguyễn Văn Hội và 23 đồng tác giả được nhận Giải thưởng Nhà nước đợt sáu.

Cụm công trình đã sáng tạo ra một giải pháp kỹ thuật công nghệ mới giúp loại bỏ trên 70% các tạp chất kim loại sắt và canxi trong nguyên liệu dầu thô.
Cụm công trình gồm 16 giải pháp thực hiện trong giai đoạn 2015–2019. Các hướng nghiên cứu tập trung vào nguyên liệu, sản phẩm, công suất chế biến, điều kiện vận hành và tiêu thụ năng lượng. Đây là những khâu ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí, hiệu quả chế biến và khả năng hoạt động của nhà máy.
Các kết quả gồm giải pháp loại bỏ tạp chất sắt và canxi trong dầu thô, nâng khả năng chế biến nhiều loại nguyên liệu, phát triển sản phẩm và cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng. Chi phí sản xuất giảm từ 7,1 USD/thùng năm 2014 xuống 4,9 USD/thùng năm 2019.
Tổng hiệu quả kinh tế của cụm công trình được công bố tính đến ngày 31/12/2019 đạt 4.270 tỷ đồng. Số liệu phản ánh kết quả của giai đoạn nghiên cứu, ứng dụng đã xác định, thể hiện giá trị kinh tế của những cải tiến kỹ thuật trong sản xuất.
Thành tựu Dung Quất cho thấy khả năng tạo thêm hiệu quả từ một hệ thống hiện hữu. Nghiên cứu giúp nhận diện giới hạn kỹ thuật, điều chỉnh phương án và sử dụng thiết bị tốt hơn. Những cải tiến cần được đánh giá đồng thời về vận hành, chất lượng sản phẩm và chi phí.
Ba công trình trải từ khai thác mỏ đến dữ liệu giếng khoan và chế biến dầu, phản ánh những năng lực khác nhau của ngành. Kết quả được đưa vào sản xuất, kiểm chứng bằng vận hành và tiếp tục tạo kinh nghiệm cho đội ngũ. Đây là cơ sở để thành tựu khoa học phát huy tác dụng lâu dài trong phát triển công nghệ dầu khí.