Tháo gỡ “nút thắt” nhân lực và bài toán chuyển đổi số ở cơ sở
<p style="text-align: justify;">Sau 1 năm vận hành bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp, tỉnh Cao Bằng đạt nhiều kết quả tích cực trong sắp xếp bộ máy và dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, áp lực quá tải công việc và rào cản về hạ tầng công nghệ thông tin... đang là những “điểm nghẽn” cần được tháo gỡ để đạt được mục tiêu về chuyển đổi số.</p>
Tinh gọn bộ máy nhưng áp lực gia tăng ở cơ sở
Sau khi hoàn thành sắp xếp đơn vị hành chính và chính thức chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) tại tỉnh Cao Bằng đã được bố trí phù hợp với trình độ chuyên môn, năng lực và vị trí việc làm. Dù vậy, cấp xã hiện nay đang phải đảm nhận thêm nhiều chức năng, nhiệm vụ mới có tính chất phức tạp cao, nhất là ở các lĩnh vực chuyên môn sâu như quản lý đất đai, xây dựng, tài chính, đòi hỏi lực lượng thực thi ngoài kinh nghiệm, chuyên môn sâu còn phải thành thạo kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin.

Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cao Bằng phối hợp UBND các xã Bảo Lâm, Nam Quang, Quảng Lâm tổ chức lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng số, khai thác sử dụng các hệ thống thông tin phục vụ chính quyền 2 cấp cho công chức, viên chức thuộc UBND các xã.
Tại xã Trùng Khánh chỉ có 2 phòng là Kinh tế và Văn hóa nhưng cùng lúc phải phối hợp, xử lý công việc với 5 - 6 sở, ngành ở cấp tỉnh, áp lực đối với công chức rất lớn, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, khu vực vùng sâu, vùng xa, hoặc các địa phương có khối lượng lớn thủ tục hành chính.
Chất lượng cán bộ công chức hầu hết đạt chuẩn về bằng cấp và chuyên môn, tổ chức bộ máy sau sáp nhập được giữ vững ổn định. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi mô hình 2 cấp với số lượng biên chế ít nhưng khối lượng công việc lại đa lĩnh vực, năng lực thực tiễn và kỹ năng xử lý của một số công chức vẫn chưa đáp ứng kịp, làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng phục vụ nhân dân.

Tại xã Trùng Khánh, chất lượng CBCC nhìn chung đạt chuẩn về bằng cấp và chuyên môn, tổ chức bộ máy sau sáp nhập được giữ vững ổn định.
Báo cáo cho thấy, tỉnh Cao Bằng đã tổ chức 203 lớp bồi dưỡng, tập huấn cho 12.215 lượt CBCCVC. Bên cạnh đó, tỉnh tiếp tục rà soát, điều động, bố trí cán bộ sát với nhu cầu thực tế; chú trọng công tác đánh giá, kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp có biểu hiện đùn đẩy, né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm. Nhờ những giải pháp đồng bộ, chất lượng CBCC ngày càng được nâng cao. Hiện nay, số CBCCVC toàn tỉnh có trình độ từ đại học trở lên đạt 98,2%.
Xã Trùng Khánh đã kiến nghị các cấp có thẩm quyền sớm điều chỉnh chính sách theo hướng tăng tiền lương, phụ cấp chức vụ và ưu đãi phù hợp với điều kiện làm việc tại vùng miền núi đặc biệt khó khăn. Đồng thời, đề nghị UBND tỉnh bổ sung thêm biên chế cho Trung tâm Dịch vụ tổng hợp và Trạm Y tế xã nhằm giảm tải khối lượng công việc cho CBCCVC.
Nỗ lực chuyển đổi số ở vùng khó
Hiện nay, mức độ chuyển đổi số chung của Cao Bằng đã cơ bản đáp ứng yêu cầu vận hành bộ máy chính quyền 2 cấp và hệ thống chính trị. Theo dữ liệu trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, đến ngày 1/5/2026, Cao Bằng đã cung cấp 1.034 dịch vụ công trực tuyến; tỷ lệ nộp hồ sơ trực tuyến đạt 79,6%. Tính đến nay, toàn tỉnh đã giảm số thôn, xóm, khu dân cư “trắng sóng” hoặc “lõm sóng” di động, từ 138 xuống còn 69 thôn, xóm.
Mặc dù vậy, bài toán chuyển đổi số vẫn là một thách thức lớn đối với tỉnh miền núi Cao Bằng. Do địa hình chia cắt mạnh, giao thông trở ngại, dân cư phân bố rải rác, việc đầu tư và duy trì các trạm thu phát sóng cơ sở gặp rất nhiều rào cản. Vẫn còn 29 xóm vùng sâu, vùng xa chưa có điện lưới, chưa được phủ sóng di động hoặc Internet băng rộng, gây cản trở không nhỏ đến mục tiêu chuyển đổi số toàn diện.
Tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh, đại đa số đồng bào là dân tộc thiểu số, một số người dân chưa biết tiếng phổ thông hoặc chưa biết chữ, chưa biết thao tác trên ứng dụng VneID, thiếu các thiết bị như máy tính, điện thoại thông minh hoặc ngại mở tài khoản ngân hàng, khiến việc tiếp cận các quy trình thủ tục hành chính gặp nhiều lúng túng.
Một số xã đã có các giải pháp khắc phục, đó là phối hợp với hệ thống ngân hàng trên địa bàn vận động người dân mở tài khoản. Đồng thời, công an xã cùng các tổ chuyển đổi số ở cơ sở nâng VNeID lên mức độ 2 cho người dân. Ở mỗi tổ xóm, thành lập tổ chuyển đổi số, trực tiếp xuống từng thôn, xóm, hộ gia đình thực hiện phương châm “cầm tay chỉ việc”, hướng dẫn người dân sử dụng các dịch vụ số giúp thu hẹp khoảng cách số cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Mô hình “Một cửa số” tập trung, duy nhất cùng Hệ thống thông tin giải quyết TTHC tỉnh đang được vận hành hiệu quả. Đường truyền tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công các cấp được duy trì ổn định, bảo đảm băng thông xử lý công việc. Các nền tảng số dùng chung cũng được triển khai đồng bộ trên toàn tỉnh, giúp tránh đầu tư trùng lắp và tiết kiệm ngân sách.
Chuyển đổi số đã hiện diện rõ nét trong đời sống người dân, phát huy vai trò như một “trợ lực” quan trọng, giúp giảm tải áp lực hành chính. Nhiều công việc được xử lý nhanh gọn, thông suốt trên môi trường số, giúp giảm thời gian, công sức đi lại của người dân. Ở cấp xã, cán bộ có thể tra cứu, đối chiếu thông tin ngay tại bàn làm việc, người dân theo dõi được tiến độ giải quyết hồ sơ, qua đó hạn chế tình trạng chậm trễ, phiền hà. Nhờ đó, người dân không phải chờ đợi lâu, nhiều nội dung được xác minh và giải quyết ngay.
UBND tỉnh Cao Bằng đang đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ tỉnh Cao Bằng xóa các vùng lõm sóng trên địa bàn tỉnh các xóm, khu dân cư “trắng sóng” hoặc “lõm sóng” di động.
Nỗ lực tháo gỡ khó khăn về nhân lực và hạ tầng tại các địa phương như Trùng Khánh, Trà Lĩnh đang tạo tiền đề quan trọng giúp tỉnh Cao Bằng từng bước xây dựng chính quyền số hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.