Thiết lập chuẩn mực kỹ thuật cho “chứng cứ thời gian” trong giao dịch số

<p>Ngày 31/12/2025, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 51/2025/TT-BKHCN, kèm theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 138:2025/BKHCN về yêu cầu đối với dịch vụ cấp dấu thời gian. Văn bản đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý – kỹ thuật cho hạ tầng dịch vụ tin cậy, góp phần bảo đảm tính toàn vẹn, xác thực và giá trị pháp lý của giao dịch điện tử trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.</p>

Trong bối cảnh giao dịch điện tử ngày càng phổ biến, từ hóa đơn điện tử, hợp đồng điện tử đến dịch vụ công trực tuyến, việc xác định thời điểm chính xác một dữ liệu điện tử được tạo lập, ký số hay lưu trữ trở thành yếu tố then chốt. 

Thực tiễn cho thấy, khi phát sinh tranh chấp hoặc cần truy xuất thông tin, câu hỏi "dữ liệu này tồn tại từ khi nào" thường mang ý nghĩa quyết định về mặt pháp lý. Đó chính là vai trò của dịch vụ cấp dấu thời gian (time-stamp) – dịch vụ cung cấp bằng chứng điện tử để xác nhận thời điểm tồn tại của dữ liệu. 

Trên thế giới, dịch vụ này được coi là một cấu phần quan trọng của hạ tầng tin cậy số, song tại Việt Nam, trong giai đoạn đầu phát triển, các yêu cầu kỹ thuật và vận hành còn phân tán, chủ yếu dựa trên danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng, chưa hình thành một quy chuẩn đồng bộ.

Chuẩn hóa yêu cầu kỹ thuật và vận hành

Việc ban hành QCVN 138:2025/BKHCN nhằm khắc phục khoảng trống này. Quy chuẩn quy định toàn diện các yêu cầu kỹ thuật đối với dịch vụ cấp dấu thời gian, đồng thời đặt ra yêu cầu chặt chẽ về quy trình vận hành, kiểm soát và trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ.

Theo quy định, dịch vụ cấp dấu thời gian phải đáp ứng các yêu cầu liên quan đến hạ tầng kỹ thuật cốt lõi như: thiết bị bảo mật phần cứng (HSM), nguồn thời gian đáng tin cậy, hệ thống giám sát và ghi nhật ký, cơ chế sao lưu và phục hồi dữ liệu. Đây là những thành phần quyết định mức độ an toàn, tin cậy của dấu thời gian, đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm như tài chính – ngân hàng, chứng khoán, đấu thầu qua mạng và lưu trữ hồ sơ số.

Thông tư cũng làm rõ hệ thống khái niệm nền tảng như: dịch vụ cấp dấu thời gian; dấu thời gian (time-stamp token); thời điểm cấp dấu thời gian; khóa bí mật của tổ chức cung cấp dịch vụ; kiểm toán kỹ thuật và tổ chức kiểm toán kỹ thuật. Việc chuẩn hóa thuật ngữ giúp thống nhất cách hiểu giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và các tổ chức đánh giá sự phù hợp, hạn chế rủi ro pháp lý trong quá trình triển khai.

Theo Thông tư 51/2025/TT-BKHCN, trừ trường hợp tổ chức cung cấp dịch vụ lựa chọn áp dụng trực tiếp các quy định của Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15, các tổ chức đang hoạt động hợp pháp trong lĩnh vực cấp dấu thời gian có trách nhiệm rà soát, nâng cấp hệ thống thông tin, quy trình kỹ thuật và đội ngũ nhân sự để đáp ứng đầy đủ yêu cầu của QCVN 138:2025/BKHCN trước ngày 10/4/2027.

Khoảng thời gian chuyển tiếp này được đánh giá là cần thiết, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động đầu tư hạ tầng, đặc biệt là các hệ thống kỹ thuật chuyên sâu, đòi hỏi chi phí và nhân lực chất lượng cao.

Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Kể từ thời điểm này, Thông tư số 06/2015/TT-BTTTT và Thông tư số 16/2019/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông về danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng đối với chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số sẽ hết hiệu lực thi hành. Riêng các hồ sơ đề nghị cấp phép cung cấp dịch vụ cấp dấu thời gian đã nộp trước thời điểm Thông tư 51 có hiệu lực nhưng chưa được cấp phép vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết theo quy định cũ, bảo đảm tính liên tục trong quản lý nhà nước.

Thiết lập chuẩn mực kỹ thuật cho “chứng cứ thời gian” trong giao dịch số- Ảnh 1.

Thông tư số 51/2025/TT-BKHCN sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

Tăng cường kiểm soát, nâng cao niềm tin số

Một điểm đáng chú ý khác là quy định về đánh giá sự phù hợp. Theo đó, việc đánh giá các yêu cầu về quy trình vận hành và kiểm soát được thực hiện theo phương thức 6 – đánh giá hệ thống quản lý, phù hợp với Thông tư số 28/2012/TT-BKHCN và Thông tư số 19/2025/TT-BKHCN về kiểm toán kỹ thuật đối với chữ ký điện tử và dịch vụ tin cậy.

Các tổ chức cung cấp dịch vụ cấp dấu thời gian có trách nhiệm công bố hợp quy, chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời lưu trữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo quy định tại Thông tư số 03/2025/TT-BKHCN. Các tổ chức đánh giá sự phù hợp phải thực hiện đánh giá, chứng nhận đúng quy trình và định kỳ báo cáo kết quả hoạt động với Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia.

Theo giới chuyên môn, việc đưa dịch vụ cấp dấu thời gian vào một quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thống nhất sẽ góp phần nâng cao mức độ an toàn, minh bạch của giao dịch điện tử. Khi dấu thời gian được kiểm soát chặt chẽ về kỹ thuật và vận hành, khả năng chứng minh, truy xuất và xử lý tranh chấp trong môi trường số sẽ được bảo đảm tốt hơn.

Việc ban hành QCVN 138:2025/BKHCN được đánh giá là mảnh ghép quan trọng trong hệ sinh thái dịch vụ tin cậy số tại Việt Nam, cùng với chữ ký số, chứng thực điện tử và định danh điện tử. Khi các dịch vụ này được chuẩn hóa và vận hành đồng bộ, niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào giao dịch điện tử sẽ được củng cố, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số.

Trong bối cảnh chữ ký số và dấu thời gian không còn là công cụ chuyên biệt của cơ quan nhà nước hay doanh nghiệp lớn, mà đang dần trở thành "hạ tầng nền" cho toàn xã hội, việc chuẩn hóa kỹ thuật và vận hành ở thời điểm này được coi là yêu cầu tất yếu, mang ý nghĩa lâu dài đối với quá trình chuyển đổi số quốc gia.