Thúc đẩy liêm chính nghiên cứu và dữ liệu mở trong hoạt động khoa học, công nghệ
<p style="text-align: justify;">Liêm chính nghiên cứu và dữ liệu mở đang trở thành những yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, tính minh bạch và khả năng ứng dụng của các kết quả khoa học. Đây cũng là nền tảng để tăng cường trách nhiệm giải trình, thúc đẩy hợp tác và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.</p>
Chiều 05/11/2026, phiên Tọa đàm chuyên đề "Thúc đẩy liêm chính nghiên cứu và dữ liệu mở cho phát triển bền vững" diễn ra với sự tham gia của các nhà quản lý, đại diện quỹ tài trợ, cơ quan nghiên cứu và cộng đồng nhà khoa học.
Các đại biểu tập trung trao đổi về tiêu chuẩn quốc tế trong thực hành liêm chính nghiên cứu, cơ chế quản lý minh bạch và thúc đẩy chia sẻ dữ liệu khoa học. Đây được xác định là những yếu tố quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu, bảo đảm khả năng kiểm chứng, tái lập kết quả và tăng cường đóng góp của khoa học đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Các đại biểu chụp hình lưu niệm.
Hoàn thiện cơ chế bảo đảm liêm chính nghiên cứu
Phát biểu tại Tọa đàm, GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhấn mạnh, trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ, liêm chính nghiên cứu ngày càng có vai trò quan trọng.
Theo GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức, dữ liệu nghiên cứu không chỉ phục vụ công bố khoa học mà còn liên quan đến quyền sở hữu, bảo mật thông tin, thời điểm công khai và xử lý xung đột lợi ích. Vì vậy, cần xây dựng nguyên tắc quản lý, chia sẻ dữ liệu minh bạch, đồng thời xác định rõ quyền và trách nhiệm của các bên tham gia nghiên cứu.

GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức phát biểu tại Toạ đàm.
Khi doanh nghiệp ngày càng tham gia sâu vào nghiên cứu, phát triển sản phẩm và thương mại hóa công nghệ, việc hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp trở thành yêu cầu cấp thiết. Cơ chế này cần vừa bảo đảm tiêu chuẩn liêm chính khoa học, vừa bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, sáng chế và lợi ích thương mại hợp pháp.
Ở góc độ chính sách, TS. Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Xã hội và Tự nhiên, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) cho biết, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 đã quy định cụ thể hơn về liêm chính khoa học và đạo đức nghề nghiệp. Các nguyên tắc này tiếp tục được cụ thể hóa trong những văn bản hướng dẫn, trong đó có Nghị định số 262/2026/NĐ-CP.
Các yêu cầu trọng tâm gồm bảo đảm tính trung thực, khách quan, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ và thực hiện trách nhiệm giải trình trong toàn bộ quá trình nghiên cứu.

TS. Nguyễn Thị Ngọc Diệp trình bày tham luận Chính sách KH&CN thúc đẩy liêm chính khoa học tại Việt Nam.
Một vấn đề được đề cập là cần phân biệt rủi ro khách quan trong nghiên cứu với hành vi vi phạm. Trường hợp nhà nghiên cứu tuân thủ quy trình, lưu trữ đầy đủ hồ sơ nhưng kết quả không đạt mục tiêu dự kiến cần được xem xét trên cơ sở bản chất và nguyên nhân cụ thể. Trong khi đó, các hành vi nghiêm trọng như đạo văn, ngụy tạo hoặc giả mạo dữ liệu phải được xử lý theo quy định.
Bên cạnh đó, Bộ KH&CN đang xây dựng nền tảng số quản lý KH&CN quốc gia, hướng tới kết nối, liên thông thông tin giữa các cơ quan và tổ chức tài trợ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát hoạt động nghiên cứu.
Đưa quản trị dữ liệu vào hoạt động tài trợ nghiên cứu
Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, TS. Hồ Mạnh Tùng, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, phân tích mối quan hệ giữa liêm chính nghiên cứu và dữ liệu mở trong cơ chế tài trợ khoa học.
Từ kinh nghiệm của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH), Chương trình Horizon Europe của Liên minh châu Âu và Quỹ Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo Vương quốc Anh (UKRI), tham luận cho thấy các tổ chức tài trợ ngày càng chú trọng quản trị dữ liệu trong toàn bộ vòng đời nghiên cứu, từ xây dựng đề xuất đến công bố và khai thác kết quả.

TS. Hồ Mạnh Tùng trình bày tham luận gắn liêm chính nghiên cứu với dữ liệu mở trong cơ chế tài trợ khoa họcL Kinh nghiệm quốc tế và hám ý chính sách cho Việt Nam.
Một trong những đề xuất đáng chú ý là áp dụng bộ nguyên tắc FAIR, gồm 5 tiêu chí: Có thể tìm thấy, truy cập, tương tác và tái sử dụng dữ liệu. Đồng thời, NAFOSTED và các quỹ tài trợ khoa học được khuyến nghị đưa Kế hoạch quản lý và chia sẻ dữ liệu (DMP) thành tiêu chí đánh giá hồ sơ, gắn với điều kiện giải ngân và nghiệm thu.
Theo hướng tiếp cận này, quản trị dữ liệu cần được tính đến ngay từ khâu thiết kế nghiên cứu, thay vì chỉ tập trung đánh giá các sản phẩm đầu ra.
Từ thực tiễn giáo dục đại học, PGS.TS. Lâm Quang Vinh, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, đề xuất xây dựng quy tắc liêm chính học thuật, sử dụng công cụ kiểm tra trùng lặp và phát triển kho dữ liệu dùng chung.

PGS.TS. Lâm Quang Vinh trình bày tham luận Xây dựng văn hoá liêm chính nghiên cứu và năng lực thực hành dữ liệu mở trong đại học: Kinh nghiệm và định hướng của ĐHQG TP. Hồ Chí Minh.
Đây là những giải pháp nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực thực hành liêm chính trong đội ngũ giảng viên, nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh, đồng thời từng bước hình thành văn hóa dữ liệu mở trong các trường đại học.
Đối với khu vực ngoài công lập, GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức cho rằng sự phát triển của các trường đại học tư thục, viện nghiên cứu và tổ chức KH&CN thuộc doanh nghiệp đang đặt ra yêu cầu mới về bảo đảm liêm chính nghiên cứu và chia sẻ dữ liệu.
Thách thức là hài hòa giữa yêu cầu công khai dữ liệu phục vụ cộng đồng khoa học với việc bảo vệ thông tin, quyền sở hữu trí tuệ, sáng chế và lợi ích thương mại của nhà đầu tư.
Vì vậy, cần sớm xây dựng cơ chế hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp; đồng thời thiết lập quy tắc bảo đảm liêm chính trong nghiên cứu, công bố khoa học và chính sách rõ ràng về bảo vệ, khai thác tài sản trí tuệ. Đây cũng là cơ sở khuyến khích doanh nghiệp tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D).

Toàn cảnh Toạ đàm.
Các ý kiến tại Tọa đàm cho thấy, thúc đẩy liêm chính nghiên cứu và dữ liệu mở không chỉ là yêu cầu hoàn thiện chính sách mà còn đòi hỏi sự thay đổi trong nhận thức và thực hành của toàn bộ hệ thống nghiên cứu. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng, độ tin cậy của kết quả khoa học, sử dụng hiệu quả nguồn lực và tăng cường hội nhập quốc tế.