Thúc đẩy liên kết 3 nhà trong nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa

<p style="text-align: justify;">Kết quả nghiên cứu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi có doanh nghiệp sẵn sàng tiếp nhận, thị trường có nhu cầu và sản phẩm được thương mại hóa. Kinh nghiệm từ Ba Lan, Indonesia cùng thực tiễn Việt Nam cho thấy, thúc đẩy liên kết Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp đòi hỏi đổi mới cơ chế tài trợ, chia sẻ rủi ro và đánh giá theo kết quả đầu ra.</p>

Ngày 05/11/2026, trong khuôn khổ Diễn đàn Mở rộng kết nối hợp tác KH,CN&ĐMST của Việt Nam với các nước (IRIFF 2026) do Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (NAFOSTED) tổ chức đã diễn ra Phiên thảo luận với chủ đề "Thúc đẩy mô hình liên kết 3 nhà trong chuỗi giá trị liền mạch: Nghiên cứu ứng dụng, Chuyển giao công nghệ và Thương mại hóa".

Tại Phiên thảo luận, các chuyên gia trong nước và quốc tế đã trao đổi về một thách thức lớn của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo là làm thế nào đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm đến thị trường, thay vì dừng lại ở các công bố khoa học hay nguyên mẫu thử nghiệm.

Thúc đẩy liên kết 3 nhà trong nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa công nghệ - Ảnh 1.

Toàn cảnh Phiên thảo luận.

Nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu thị trường

Phát biểu khai mạc Phiên thảo luận, ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ, Bộ KH&CN cho rằng, cần thay đổi cách tiếp cận đối với nghiên cứu ứng dụng, không chỉ quan tâm công trình tạo ra kết quả gì mà phải xác định nghiên cứu giải quyết bài toán nào, tạo ra giá trị gì và ai sẽ sử dụng kết quả đó.

Theo ông Hoàng Anh Tú, Việt Nam đang chuyển từ phương thức quản lý KH,CN&ĐMST, chú trọng quy trình và đầu vào sang cách tiếp cận quan tâm nhiều hơn đến mục tiêu, kết quả. Định hướng này được cụ thể hóa qua 3 yêu cầu: Nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn; Thúc đẩy đồng tài trợ, chia sẻ rủi ro; Đánh giá dựa trên kết quả ứng dụng.

Trong đó, doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khi hình thành nhiệm vụ nghiên cứu, thay vì chờ công nghệ hoàn thiện mới tìm kiếm đơn vị tiếp nhận. Nhà nước giữ vai trò xây dựng chính sách, xác định ưu tiên và hỗ trợ nguồn lực; nhà khoa học tạo ra tri thức, phát triển giải pháp; doanh nghiệp xác định nhu cầu, tham gia hoàn thiện và đưa sản phẩm ra thị trường.

Ông Hoàng Anh Tú nhấn mạnh, nghiên cứu và phát triển luôn tiềm ẩn rủi ro, nhất là với công nghệ mới. Nếu chỉ tài trợ những dự án chắc chắn thành công, sẽ khó tạo ra đột phá. Tuy nhiên, chấp nhận rủi ro không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý; các rủi ro cần được kiểm soát minh bạch, có trách nhiệm.

Thúc đẩy liên kết 3 nhà trong nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa công nghệ - Ảnh 2.

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ, Bộ KH&CN phát biểu khai mạc Phiên thảo luận.

Chia sẻ kinh nghiệm tại Ba Lan, ông Maciej Jędrzejek, Phó Giám đốc Ban Hợp tác Quốc tế Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia Ba Lan (NCBR) cho biết, tài trợ nghiên cứu theo từng mức độ sẵn sàng công nghệ là cách tiếp cận phổ biến. Tuy nhiên, hoàn thiện công nghệ chưa đồng nghĩa với khả năng thương mại hóa.

Một sản phẩm có thể hoàn thiện về kỹ thuật nhưng vẫn thiếu cơ hội kinh doanh, khách hàng hoặc doanh nghiệp sẵn sàng tiếp nhận. Vì vậy, NCBR không chỉ xem xét mức độ hoàn thiện công nghệ mà còn đánh giá nhu cầu thị trường, cam kết triển khai của doanh nghiệp, lộ trình thương mại hóa và khả năng tiếp cận khách hàng.

Theo ông Maciej Jędrzejek, ngay cả khi công nghệ đạt mức độ sẵn sàng cấp 8 hoặc 9, dự án vẫn chưa thể coi là thành công nếu chưa có người sử dụng. Đổi mới sáng tạo chỉ thực sự hình thành khi kết quả nghiên cứu đáp ứng nhu cầu thực tế.

Thúc đẩy liên kết 3 nhà trong nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa công nghệ - Ảnh 3.

Ông Maciej Jędrzejek, Phó Giám đốc Ban Hợp tác Quốc tế Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia Ba Lan (NCBR) phát biểu tại Phiên thảo luận.

Thực tiễn nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy khoảng cách này. TS. Trần Bảo Trung, Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam giới thiệu quá trình phát triển vật liệu nano thành các nguyên mẫu thiết bị năng lượng sạch trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga.

Từ nghiên cứu vật liệu, nhóm đã phát triển nguyên mẫu màng trao đổi proton, bộ điện phân và hệ thống sản xuất hydro sử dụng năng lượng mặt trời. Một số nguyên mẫu bộ điện phân có công suất 100-250 lít hydro mỗi giờ. Tuy nhiên, TS. Trần Bảo Trung cho biết, đây mới là kết quả thử nghiệm. Để tiến tới ứng dụng công nghiệp, nhóm cần tiếp tục phối hợp với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học nhằm hoàn thiện công nghệ.

Thúc đẩy liên kết 3 nhà trong nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa công nghệ - Ảnh 4.

TS. Trần Bảo Trung, Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam phát biểu tại Phiên thảo luận.

Xác lập cam kết doanh nghiệp ngay từ đầu

Từ thực tiễn tài trợ nghiên cứu trong nước, ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc NAFOSTED chỉ ra một điểm nghẽn lớn của mô hình hợp tác ba nhà là sự tham gia chưa thực sự bền vững của doanh nghiệp.

Theo ông Đào Ngọc Chiến, trong nhiều năm, NAFOSTED đã hỗ trợ các dự án có sự tham gia của trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, với yêu cầu doanh nghiệp có kinh phí đối ứng. 

Tuy vậy, không ít đề xuất dừng lại ở khâu đăng ký; một số doanh nghiệp rút lui hoặc không duy trì cam kết sau khi dự án được phê duyệt, khiến quá trình hợp tác không đạt kết quả như kỳ vọng. Đáng chú ý, sau khoảng 20 năm hoạt động tài trợ, kết quả nổi bật vẫn chủ yếu là các công bố khoa học, trong khi việc chuyển hóa tri thức thành sản phẩm hàng hóa còn hạn chế.

Để khắc phục, Giám đốc NAFOSTED đề xuất yêu cầu trường đại học và doanh nghiệp có thỏa thuận hợp tác trước khi nộp hồ sơ nghiên cứu. Theo đó, cam kết về trách nhiệm và nguồn lực của doanh nghiệp phải được xác lập ngay từ đầu, thay vì đợi đến khi nghiên cứu hoàn thành mới tìm kiếm đơn vị tiếp nhận.

Thúc đẩy liên kết 3 nhà trong nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa công nghệ - Ảnh 5.

Giám đốc NAFOSTED Đào Ngọc Chiến chia sẻ tại Phiên thảo luận.

Bên cạnh cơ chế tài trợ, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư R&D cũng được các đại biểu quan tâm. 

Ông Raden Arthur Ario Lelono, Giám đốc phụ trách Tài trợ Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo Trung tâm Khoa học và Đổi mới Quốc gia Indonesia (BRIN) chia sẻ cơ chế ưu đãi thuế tối đa 300% đối với khoản đầu tư R&D, tùy điều kiện về thương mại hóa sản phẩm, đóng góp cho mục tiêu quốc gia và hợp tác với trường đại học.

Để được hưởng ưu đãi, doanh nghiệp phải cung cấp tài liệu chứng minh khoản đầu tư. Cơ quan nghiên cứu BRIN thực hiện rà soát, xác minh và cấp chứng nhận làm căn cứ để doanh nghiệp gửi cơ quan thuế. Theo đại diện Indonesia, chính sách đang được các doanh nghiệp nhỏ và vừa tận dụng khá hiệu quả, góp phần khuyến khích đầu tư nghiên cứu và đưa kết quả lên các mức độ thương mại hóa cao hơn.

Từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước, các đại biểu cho rằng liên kết ba nhà không thể chỉ dừng ở việc tập hợp Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp trong cùng một dự án. Điều cốt lõi là xác lập rõ trách nhiệm, lợi ích và cam kết của từng bên; đồng thời thiết kế cơ chế tài trợ linh hoạt, chia sẻ rủi ro có kiểm soát và đánh giá bằng kết quả thực chất. Đây cũng là điều kiện để thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, đưa tri thức khoa học trở thành sản phẩm, công nghệ và giá trị kinh tế - xã hội.