Thúc đẩy nền tảng số quốc gia: Cần đồng bộ thể chế, dữ liệu và nguồn lực
<p style="text-align: justify;">Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành động lực then chốt cho phát triển kinh tế - xã hội, việc xây dựng và triển khai các nền tảng số dùng chung quốc gia, cùng hệ thống cơ sở dữ liệu quy mô lớn, tiếp tục được các Bộ, ngành đẩy mạnh. Sáng 09/4/2026, tại buổi làm việc giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Công an, nhiều nội dung quan trọng đã được rà soát, qua đó làm rõ những kết quả bước đầu cũng như các điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ.</p>
Về phát triển nền tảng số, Bộ Công an đã đề xuất 14 nền tảng đưa vào danh mục nền tảng số quốc gia và nền tảng dùng chung theo ngành, lĩnh vực. Đến nay, một số nền tảng cốt lõi đã đi vào vận hành như nền tảng định danh và xác thực điện tử, nền tảng SOC quốc gia thế hệ mới, nền tảng chia sẻ và điều phối dữ liệu, cùng nền tảng điện toán đám mây trong Trung tâm dữ liệu quốc gia. Đây được xem là những "trục xương sống" quan trọng, tạo nền tảng cho việc kết nối, chia sẻ dữ liệu và phát triển các dịch vụ số trên phạm vi toàn quốc.
Tuy nhiên, phần lớn các nền tảng còn lại vẫn đang trong giai đoạn triển khai hoặc chuẩn bị đầu tư, trong khi một số nền tảng quan trọng như blockchain quốc gia, trợ lý ảo hay trung tâm tính toán hiệu năng cao chưa được triển khai thực tế.
Đáng chú ý, đến nay chưa có nền tảng nào được công bố đầy đủ về phạm vi, đối tượng sử dụng, chức năng, dịch vụ và kiến trúc tổng thể. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện kế hoạch triển khai và công bố thông tin minh bạch nhằm tránh tình trạng chồng chéo, cát cứ trong đầu tư và vận hành hệ thống.

Toàn cảnh buổi làm việc.
Ở góc độ quản lý nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ được xác định là cơ quan đầu mối trong việc định hướng, xây dựng thể chế, tiêu chuẩn và điều phối chung. Thời gian qua, Bộ đã tích cực rà soát danh mục nền tảng, góp ý về kiến trúc hệ thống, đồng thời tổng hợp kế hoạch triển khai của các Bộ, ngành nhằm hướng tới xây dựng hệ sinh thái số thống nhất. Vai trò này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh yêu cầu chuẩn hóa, liên thông và chia sẻ dữ liệu ngày càng cao.
Đối với hệ thống cơ sở dữ liệu, Bộ Công an đã xây dựng và đồng bộ nhiều cơ sở dữ liệu quan trọng lên Trung tâm dữ liệu quốc gia, tiêu biểu như cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, căn cước công dân, cư trú, phương tiện, xuất nhập cảnh… với quy mô hàng chục triệu đến hàng trăm triệu bản ghi. Đây là nền tảng dữ liệu quan trọng phục vụ quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Tuy vậy, một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành vẫn còn hạn chế về tiến độ và tỷ lệ số hóa. Đáng chú ý, dữ liệu lý lịch tư pháp hay dữ liệu xử lý vi phạm hành chính vẫn chưa hoàn thiện theo yêu cầu. Bên cạnh đó, hai cơ sở dữ liệu lớn là cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính và cơ sở dữ liệu địa chỉ số quốc gia vẫn chưa hoàn thành theo lộ trình đề ra. Một trong những nguyên nhân chính được chỉ ra là thiếu hướng dẫn thống nhất về định mức số hóa dữ liệu, gây khó khăn cho các Bộ, ngành trong quá trình triển khai.
Kết quả khảo sát cho thấy hạ tầng công nghệ thông tin dù đã có bước phát triển nhưng vẫn chưa đồng đều. Tỷ lệ máy tính chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu phần mềm bản quyền, thiết bị đầu cuối chưa đạt chuẩn còn ở mức cao. Một số trung tâm dữ liệu chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, trong khi nhiều hệ thống chưa hoàn thiện hồ sơ an toàn thông tin theo cấp độ. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đầu tư, nâng cấp và chuẩn hóa hạ tầng, đồng thời tăng cường bảo đảm an toàn thông tin trong toàn hệ thống.
Một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là cơ chế đầu tư và phân bổ nguồn lực.
Theo Bộ Công an, giai đoạn trước đã đăng ký 24 dự án với tổng vốn hơn 6.200 tỷ đồng, song gặp khó khăn do chưa hoàn thiện thủ tục đầu tư. Sau rà soát, nguồn lực được tập trung cho một số dự án trọng điểm như Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vốn ước tính lên tới khoảng 73.500 tỷ đồng, riêng năm 2026 cần khoảng 6.800 tỷ đồng cho các dự án công nghệ và chuyển đổi số.
Tuy nhiên, thực tế đang tồn tại nghịch lý khi chưa có vốn thì khó phê duyệt dự án, trong khi chưa phê duyệt dự án lại không thể bố trí vốn. Cùng với đó, cơ chế giải ngân hiện hành chưa thực sự phù hợp với đặc thù của các dự án công nghệ, vốn đòi hỏi thời gian triển khai dài và khả năng điều chỉnh linh hoạt trong quá trình thực hiện. Đây được xem là rào cản lớn ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ triển khai các chương trình chuyển đổi số quy mô quốc gia.
Từ thực tiễn trên, các bên thống nhất cần sớm hoàn thiện cơ chế điều phối tổng thể ở cấp quốc gia, trong đó danh mục nền tảng số, cơ sở dữ liệu và nguồn lực đầu tư được quản lý theo hướng tập trung, đồng bộ. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế đầu tư đặc thù cho các dự án công nghệ, bảo đảm vừa linh hoạt trong triển khai, vừa kiểm soát hiệu quả nguồn lực.
Có thể thấy, Việt Nam đã bước đầu hình thành được hạ tầng số và hệ thống dữ liệu quy mô lớn, tạo nền tảng quan trọng cho chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, để các nền tảng này thực sự phát huy hiệu quả, yêu cầu đặt ra là phải đồng bộ cả về thể chế, công nghệ và nguồn lực. Đây sẽ là chìa khóa để thúc đẩy phát triển nền tảng số quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững trong giai đoạn tới.