Trồng cây che bóng giúp cà phê Sơn La giảm thiệt hại do sương muối

<p style="text-align: justify;">Trồng xen cây che bóng trên nương cà phê giúp điều hòa nhiệt độ, giữ ẩm, hạn chế tác động của sương muối và xói mòn đất, đồng thời tạo thêm nguồn thu cho người dân. Mô hình triển khai tại Sơn La cho thấy cây cà phê phục hồi tốt, năng suất tăng và mở thêm hướng canh tác thích ứng với điều kiện khí hậu vùng miền núi Tây Bắc.</p>

Dùng cây che bóng để bảo vệ và phục hồi vườn cà phê

Cà phê là cây trồng có giá trị kinh tế tại Sơn La nhưng cũng chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết cực đoan. Đợt sương muối năm 2019 từng gây thiệt hại 3.159 ha cà phê chè đang trong giai đoạn cho thu hoạch, đặt ra yêu cầu tìm giải pháp bảo vệ vườn cây và duy trì sản xuất ổn định.

Từ tháng 8/2020, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông lâm nghiệp Tây Bắc triển khai dự án khuyến nông Trung ương “Xây dựng mô hình trồng cây che bóng nhằm hạn chế thiệt hại do sương muối và nâng cao hiệu quả canh tác cho cây cà phê chè tại các tỉnh Tây Bắc” tại Sơn La và Điện Biên.

Dự án xây dựng 4 mô hình với tổng diện tích 30 ha, có 65 hộ dân tham gia. Các điểm triển khai trước đây thuộc các xã Chiềng Ban, Chiềng Pha, Chiềng Chung của Sơn La và Ẳng Nưa của Điện Biên; theo địa giới hiện nay lần lượt thuộc các xã Chiềng Mai, Bình Thuận, Mường Chanh và Mường Ảng.

Trồng cây che bóng giúp cà phê Sơn La giảm thiệt hại do sương muối- Ảnh 1.

Các hộ dân tham quan mô hình trồng cây che bóng tại tỉnh Sơn La.

Các mô hình sử dụng chủ yếu cây keo dậu và xoài trồng xen trên nương cà phê. Dự án cung cấp hơn 1.000 cây keo dậu và 100 cây xoài, đồng thời hướng dẫn người dân kỹ thuật chăm sóc, tỉa cành và tạo tán phù hợp.

Cây che bóng tạo vùng tiểu khí hậu dưới tán, giúp giảm ánh sáng trực tiếp, giữ độ ẩm và hạn chế tác động của sương muối. Tán cây còn làm giảm cường độ hạt mưa, góp phần hạn chế xói mòn trên đất dốc, vấn đề thường gặp tại vùng trồng cà phê miền núi.

Hiệu quả được thể hiện rõ ở diện tích cà phê từng bị sương muối nặng và phải cưa đốn cải tạo. Mô hình trồng keo dậu kết hợp chăm sóc đạt năng suất bình quân 9,25 tấn quả tươi/ha năm 2021, tăng lên 13 tấn/ha năm 2022; vườn cà phê phục hồi hoàn toàn sau ảnh hưởng của sương muối.

Với diện tích bị ảnh hưởng nhẹ, mô hình keo dậu kết hợp thâm canh đạt trung bình 14,28 tấn/ha năm 2021 và 15,5 tấn/ha năm 2022. Cây che bóng đạt chiều cao trên 3m, đường kính tán trên 2m và khả năng che phủ khoảng 25-40%.

Tới nay, các mô hình như mắc ca – cà phê – đậu đỗ; trám đen – cà phê – đậu đỗ; cà phê xen cây ăn quả, cây lâm nghiệp và cây dược liệu đang được triển khai, nhân rộng tại nhiều địa phương. Tổng diện tích các mô hình nông lâm kết hợp của tỉnh đã đạt khoảng 15.000 ha.

Tăng thêm nguồn thu, hướng tới canh tác cà phê bền vững

Năm 2025, chương trình tái canh cà phê chè tại Sơn La tiếp tục được triển khai tại Nậm Lầu và Chiềng Mai với quy mô 25 ha, 86 hộ dân tham gia. Bên cạnh cà phê, các loại cây trám, mắc ca được bố trí trồng xen, che bóng. Kết quả kiểm tra cuối năm cho thấy tỷ lệ cây sống trên 92% và cây trồng sinh trưởng ổn định.

Ngày 22/4/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La ban hành Kết luận số 607-KL/TU về sản xuất, chế biến, tiêu thụ cà phê bền vững theo hướng sinh thái đến năm 2030, định hướng đến năm 2035. Theo đó, tỉnh xác định phát triển cà phê không chỉ theo sản lượng mà theo chuỗi đa giá trị, gắn sản xuất với chế biến, dịch vụ, du lịch và kinh tế carbon thấp, với mục tiêu cuối cùng là nâng cao giá trị và thu nhập cho người dân.

Đến năm 2030, Sơn La đặt mục tiêu ổn định khoảng 35.000 ha cà phê, đạt 60.000 tấn cà phê nhân; phát triển 5.950 ha cà phê đặc sản và đưa trên 80% diện tích cà phê cho thu hoạch vào các hệ thống chứng nhận bền vững như RA, 4C, GAP, hữu cơ hoặc tương đương. Tỉnh cũng đặt mục tiêu giảm ít nhất 15% phát thải khí nhà kính từ trồng trọt so với năm 2020.

Ngày 15/6/2026, UBND tỉnh tiếp tục ban hành Kế hoạch số 158/KH-UBND để tổ chức thực hiện định hướng này.

Cây che bóng không còn chỉ được nhìn như một biện pháp xử lý sau những đợt sương muối. Trồng xen, tăng độ che phủ, giữ ẩm, tái sử dụng phụ phẩm, giảm vật tư hóa học và liên kết người dân với hợp tác xã đang trở thành những thành phần của sản xuất cà phê sinh thái.

Đến năm 2026, Sơn La có hơn 33.600 ha cà phê. Quy mô lớn hơn cũng đồng nghĩa với yêu cầu phải giúp hàng chục nghìn hộ sản xuất chống chịu tốt hơn trước biến đổi khí hậu và biến động thị trường.

Với người trồng cà phê, hiệu quả cuối cùng của chính sách và khoa học kỹ thuật được đo bằng những thay đổi rất cụ thể, như nương cà phê ít phụ thuộc hơn vào một loại cây, đất được giữ tốt hơn, rủi ro thời tiết được giảm bớt, có thêm sản phẩm để bán và cà phê được tham gia vào những chuỗi có giá trị cao hơn.

Từ những hàng cây được trồng để chống sương muối, mô hình che bóng đang từng bước phát triển thành hệ thống canh tác nhiều tầng. Giá trị của giải pháp vì thế không chỉ nằm ở việc bảo vệ cây cà phê, mà ở khả năng giúp người dân tạo sinh kế ổn định hơn trên chính nương đất của mình.