Ứng dụng công nghệ sinh học hướng tới nông nghiệp tuần hoàn ở Hòa Vang
<p style="text-align: justify;">Từ các kết quả nghiên cứu về vi sinh vật bản địa, Trung tâm Công nghệ Sinh học Đà Nẵng, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng từng bước chuyển giao kỹ thuật sử dụng chế phẩm vi sinh vào sản xuất nông nghiệp tại huyện Hòa Vang. Không chỉ hỗ trợ phòng trừ sâu bệnh theo hướng thân thiện với môi trường, công nghệ còn giúp người dân tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất phân hữu cơ, giảm lãng phí tài nguyên và hướng tới canh tác bền vững.</p>

Người dân tham gia thực hành quy trình ứng dụng chế phẩm vi sinh trong xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp thành phân bón hữu cơ sinh học
Biến phế phụ phẩm thành nguồn nguyên liệu
Thay vì tập trung vào kiến thức lý thuyết, hoạt động chuyển giao hướng đến những vấn đề người dân thường xuyên gặp trong quá trình sản xuất như tuyến trùng ký sinh trên cây trồng, sâu bệnh hại, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và xử lý lượng phế phụ phẩm phát sinh sau sản xuất.
Để người dân có kỹ năng và trực tiếp kiểm chứng hiệu quả của quy trình trong thực tế, từ năm 2024, tại xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, Trung tâm Công nghệ Sinh học Đà Nẵng đã tổ chức tập huấn ứng dụng chế phẩm vi sinh phục vụ canh tác sạch cho các hộ nông dân trên địa bàn.
Các chuyên gia đến từ Đại học Cần Thơ hướng dẫn người dân nhận biết một số bệnh do tuyến trùng ký sinh trên cây trồng và biện pháp quản lý theo hướng thân thiện với môi trường; đồng thời giới thiệu vai trò của chế phẩm sinh học trong nông nghiệp hữu cơ và cách sử dụng thuốc trừ sâu sinh học để phòng trừ sâu hại.
Một nội dung được chú trọng là sử dụng chế phẩm vi sinh vật để xử lý chất thải và phế phụ phẩm nông nghiệp thành phân hữu cơ sinh học. Người dân được cung cấp kiến thức về nguy cơ gây ô nhiễm nếu chất thải nông nghiệp không được xử lý đúng cách, đồng thời tiếp cận quy trình công nghệ để biến nguồn phụ phẩm này thành vật tư đầu vào cho sản xuất. Qua đó, người dân có thể từng bước sử dụng chế phẩm vi sinh, thuốc trừ sâu sinh học phù hợp trong hệ thống nông nghiệp sinh thái.
Nền tảng của hoạt động chuyển giao được hình thành từ các kết quả nghiên cứu của Trung tâm Công nghệ Sinh học Đà Nẵng. Trước đó, Trung tâm đã triển khai đề tài nghiên cứu, đánh giá quy trình sản xuất và ứng dụng chế phẩm vi sinh từ các vi sinh vật phân lập tại thành phố Đà Nẵng để xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp thành phân hữu cơ.
Từ nguồn bã thải rơm sau trồng nấm và phân bò, các nhà nghiên cứu khảo sát tỷ lệ chế phẩm và nguyên liệu ủ để xây dựng quy trình xử lý phù hợp. Kết quả phân tích phân hữu cơ thành phẩm cho thấy các chỉ tiêu dinh dưỡng và yếu tố hạn chế về vi sinh vật đáp ứng quy định hiện hành.
Kết quả nghiên cứu tạo cơ sở để quy trình tiếp tục được chuyển giao vào thực tế sản xuất, qua đó tận dụng nguồn nguyên liệu vốn có nguy cơ trở thành chất thải để tạo ra phân hữu cơ phục vụ cây trồng.

Nông dân xã Hoà Nhơn thảo luận tại buổi tập huấn
Để người dân trực tiếp làm chủ quy trình
Tại Hòa Nhơn, bên cạnh phần hướng dẫn lý thuyết, người dân được thực hành trực tiếp quy trình sản xuất phân hữu cơ sinh học bằng chế phẩm vi sinh vật.
Cán bộ kỹ thuật của Trung tâm hướng dẫn các bước xử lý chất thải nông nghiệp, sử dụng chế phẩm và thực hành ủ phân ngay tại điểm tập huấn. Cách làm "cầm tay chỉ việc" giúp người dân trực tiếp thực hiện từng công đoạn thay vì chỉ tiếp nhận quy trình qua tài liệu.
Sau tập huấn, mục tiêu đặt ra là các hộ có thể tự tận dụng những loại phế phụ phẩm sẵn có trong quá trình sản xuất để ủ thành phân hữu cơ, sau đó sử dụng trở lại cho cây trồng.
Cách làm này từng bước tạo ra một vòng tuần hoàn ngay trong sản xuất nông nghiệp: phế phụ phẩm sau thu hoạch thay vì bị bỏ đi hoặc xử lý không phù hợp được đưa trở lại làm nguyên liệu sản xuất phân bón. Qua đó, người dân có thể giảm một phần lượng chất thải ra môi trường, đồng thời tạo thêm nguồn vật tư hữu cơ phục vụ canh tác.
Việc sử dụng các biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu bệnh cũng giúp mở thêm lựa chọn cho người sản xuất, từng bước giảm sự phụ thuộc vào thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Đây là một trong những yếu tố cần thiết để hướng tới sản xuất nông nghiệp hữu cơ, sinh thái và nâng cao chất lượng nông sản.
Đáng chú ý, hoạt động tại Hòa Nhơn không dừng ở việc phổ biến một kỹ thuật đơn lẻ mà cho thấy quá trình đưa kết quả nghiên cứu công nghệ sinh học đến người sản xuất. Từ việc phân lập vi sinh vật, nghiên cứu chế phẩm, xây dựng quy trình xử lý phế phụ phẩm đến hướng dẫn nông dân thực hành, kết quả khoa học và công nghệ từng bước được đưa vào giải quyết những vấn đề cụ thể của sản xuất nông nghiệp.
Đối với Hòa Vang, nơi sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng, việc người dân có thể chủ động áp dụng những quy trình kỹ thuật phù hợp với quy mô hộ gia đình sẽ tạo cơ sở để các mô hình canh tác sạch được mở rộng từ chính cộng đồng.
Từ kết quả bước đầu, Trung tâm Công nghệ Sinh học Đà Nẵng tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương, cơ sở sản xuất và các hộ nông dân để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, hướng tới nhân rộng những mô hình phù hợp.
Đưa chế phẩm vi sinh vào đồng ruộng vì thế không chỉ góp phần giải quyết bài toán xử lý phế phụ phẩm. Khi người dân từng bước làm chủ quy trình, nguồn chất thải có thể trở thành nguyên liệu cho chu kỳ sản xuất mới, còn kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ trở thành công cụ trực tiếp phục vụ sản xuất. Đây là hướng tiếp cận góp phần giảm chi phí đầu vào, hạn chế tác động đến môi trường và từng bước thúc đẩy nông nghiệp Hòa Vang phát triển theo hướng hữu cơ, sinh thái và tuần hoàn.