Ứng dụng dược liệu Việt trong hỗ trợ phục hồi vết thương bỏng

<p style="text-align: justify;">Một chế phẩm nghiên cứu từ dược liệu Việt Nam do các nhà khoa học tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (VKIST) phát triển cho thấy tiềm năng hỗ trợ giảm diện tích vết bỏng và thúc đẩy tái tạo cấu trúc da trên mô hình thực nghiệm.</p>

Chế phẩm được bào chế từ cao định chuẩn rau má và andrographolide phân lập từ cây xuyên tâm liên. Đây là hai loại dược liệu phổ biến tại Việt Nam, chứa nhiều hoạt chất có khả năng chống viêm, hỗ trợ làm lành vết thương và thúc đẩy quá trình tái tạo mô.

Chế phẩm này được nghiên cứu trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ Khoa học và Công nghệ mã số 01/2021/M003. Sản phẩm hiện đạt tiêu chuẩn cơ sở 10:2004/VKIST, mở ra khả năng phát triển các chế phẩm hỗ trợ chăm sóc vết bỏng từ nguồn nguyên liệu trong nước.

Ứng dụng dược liệu Việt trong hỗ trợ phục hồi vết thương bỏng- Ảnh 1.

Chế phẩm kem rau má nằm trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ Khoa học và Công nghệ mã số 01/2021/M003.

Kết hợp hoạt chất dược liệu từ rau má và xuyên tâm liên

Theo nhóm nghiên cứu, bỏng là dạng tổn thương da và mô có thể xuất phát từ nhiệt, hóa chất, bức xạ hoặc ma sát. Quá trình chăm sóc vết bỏng tại chỗ có vai trò quan trọng trong việc hạn chế nhiễm khuẩn, giảm đau, thúc đẩy tái tạo mô và giảm nguy cơ hình thành sẹo.

Từ nhu cầu tìm kiếm sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, an toàn và phù hợp với điều kiện chăm sóc y tế cơ bản, nhóm nghiên cứu tại VKIST đã phát triển chế phẩm từ dược liệu Việt Nam với hai nhóm hoạt chất chính.

Thành phần thứ nhất là saponin triterpenoid được chiết xuất từ rau má, gồm các hợp chất như asiaticoside, madecassoside, axit asiatic và axit madecassic. Các hoạt chất này có khả năng kích thích tổng hợp collagen, điều hòa hoạt động của nguyên bào sợi và hỗ trợ quá trình tái tạo mô da.

Thành phần còn lại là andrographolide từ cây xuyên tâm liên. Hoạt chất này được biết đến với đặc tính chống viêm, kháng khuẩn, giảm kích ứng, đồng thời hỗ trợ tăng sinh nguyên bào sợi và hình thành mạch máu mới tại vùng tổn thương.

Trong công thức, chế phẩm chứa 1% saponin triterpenoid từ cao định chuẩn rau má và 0,1% andrographolide. Các hoạt chất được phối hợp cùng hệ tá dược để tạo dạng kem bôi trực tiếp lên vùng da tổn thương.

Ứng dụng dược liệu Việt trong hỗ trợ phục hồi vết thương bỏng- Ảnh 2.

Phân tích định lượng hoạt chất saponin trong Rau má và Kem Rau má Plus.

Giảm diện tích vết bỏng sau 21 ngày sử dụng chế phẩm

Khả năng hỗ trợ phục hồi vết thương bỏng của chế phẩm từ dược liệu Việt Nam được đánh giá trên chuột cống trắng gây bỏng nhiệt thực nghiệm. Sản phẩm được sử dụng với hai mức liều là 0,02 g/cm² và 0,04 g/cm², bôi trực tiếp hai lần mỗi ngày trong 21 ngày.

Kết quả cho thấy, sau 14 ngày, diện tích vết bỏng ở các nhóm sử dụng chế phẩm đã giảm rõ rệt so với nhóm mô hình không sử dụng. Mức giảm diện tích vết bỏng ở hai liều thử nghiệm lần lượt đạt 26,1% và 22,45%.

Sau 21 ngày, hiệu quả phục hồi tiếp tục được ghi nhận rõ hơn. Diện tích vết bỏng ở nhóm sử dụng liều 0,02 g/cm² giảm 71,89%, trong khi nhóm sử dụng liều 0,04 g/cm² giảm 78,43% so với nhóm mô hình. Hiệu quả này được đánh giá tương đương nhóm đối chứng sử dụng kem chứa 1% sulfadiazine bạc, hoạt chất thường được dùng trong chăm sóc vết bỏng.

Phân tích mẫu da sau ba tuần cũng ghi nhận nồng độ hydroxyproline tại vết thương tăng đáng kể ở các nhóm sử dụng chế phẩm Kem Rau Má Plus. Sự tăng hàm lượng hydroxyprolin cho thấy sự tổng hợp collagen tăng lên, tương ứng với việc tăng cường liền vết thương và phục hồi cấu trúc da.

Cụ thể, nồng độ hydroxyproline đạt 29,74 mg/g ở nhóm sử dụng liều thấp và 31,07 mg/g ở nhóm sử dụng liều cao, tăng lần lượt 38,6% và 44,8% so với nhóm mô hình. Kết quả mô học cũng cho thấy cấu trúc da tại vùng tổn thương được cải thiện sau quá trình sử dụng.

Bên cạnh hiệu quả hỗ trợ phục hồi vết bỏng, nhóm nghiên cứu còn đánh giá ảnh hưởng toàn thân của chế phẩm từ dược liệu Việt Nam trên mô hình thực nghiệm.

Sau 21 ngày sử dụng, sản phẩm không gây ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng chung, cân nặng và các chỉ số huyết học của động vật thí nghiệm. Các chỉ số đánh giá chức năng gan, thận cũng không có khác biệt rõ rệt so với nhóm chứng. Quan sát đại thể và mô học không phát hiện tổn thương bất thường tại gan và thận.

Theo nhóm nghiên cứu, kết quả trên là cơ sở khoa học cho thấy sự kết hợp giữa nhóm hoạt chất saponin từ Rau má và andrographolide có tiềm năng ứng dụng trong phát triển các chế phẩm hỗ trợ chăm sóc và phục hồi vết thương bỏng. Sản phẩm đã thể hiện hiệu quả tốt, an toàn, ít độc tính, phù hợp với điều kiện chăm sóc y tế cơ bản ở nhiều địa phương.

Việc phát triển thành công chế phẩm mang tên Kem Rau Má Plus không chỉ khẳng định giá trị của hai loại dược liệu Rau má và Xuyên tâm liên, mà còn cho thấy một hướng đi bền vững trong nghiên cứu phát triển sản phẩm y dược có giá trị có nguồn gốc thiên nhiên. Đây là hướng tiếp cận phù hợp nhằm chủ động khai thác tiềm năng nguồn dược liệu, hình thành chuỗi giá trị từ dược liệu đến sản phẩm y dược trong phát triển nền kinh tế bền vững thông qua thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong nước.