Ứng dụng KH&CN nâng cao giá trị đặc sản cam Nam Đông
<p style="text-align: justify;">Từ hoàn thiện quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, ứng dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước đến xây dựng nhãn hiệu, truy xuất nguồn gốc, khoa học và công nghệ (KH&CN) đang từng bước góp phần nâng năng suất, chất lượng và giá trị cam Nam Đông. Việc đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất không chỉ giúp chuẩn hóa quy trình canh tác mà còn mở hướng phát triển bền vững một sản phẩm đặc sản, tạo sinh kế cho người dân vùng miền núi thành phố Huế.</p>
Cam Nam Đông là một trong những sản phẩm đặc trưng của vùng miền núi phía tây thành phố Huế. Điều kiện đất đai, khí hậu tạo nên chất lượng riêng cho sản phẩm, nhưng để phát triển thành vùng sản xuất hàng hóa ổn định, cây cam cần đồng thời giải quyết các bài toán về kỹ thuật canh tác, chất lượng, dịch bệnh và thị trường.
Trong quá trình đó, KH&CN được đưa vào từ khâu sản xuất đến xây dựng thương hiệu. Năm 2019, cam Nam Đông được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH&CN cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể.
Tiếp đó, dự án KH&CN cấp tỉnh "Xây dựng mô hình sản xuất cam Nam Đông theo tiêu chuẩn VietGAP" do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ chủ trì được triển khai từ tháng 2/2021 đến đầu năm 2024 và được Sở KH&CN tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Sở KH&CN thành phố Huế) tổ chức nghiệm thu cuối năm 2024.
Kết quả của dự án cho thấy tiến bộ kỹ thuật không dừng ở quy trình trên giấy mà đã được đưa vào các vườn cam, giúp người dân từng bước thay đổi cách sản xuất.
Chuẩn hóa quy trình từ vườn cam
Dự án đã xây dựng mô hình 5 ha cam Nam Đông đạt tiêu chuẩn VietGAP, năng suất trung bình hơn 15 tấn/ha, hiệu quả kinh tế cao hơn sản xuất đại trà 89 triệu đồng/ha. Đồng thời, mô hình trồng mới 3 ha được đầu tư hệ thống tưới tiết kiệm nước; sau 20 tháng, tỷ lệ cây sống đạt 97%, chiều cao trung bình từ 1,13–1,40 m.

Người trồng cam tham gia mô hình được hướng dẫn từ chuẩn bị sản xuất, sử dụng và giám sát phân bón đến chăm sóc, thu hoạch theo tiêu chuẩn VietGAP.
Cùng với xây dựng mô hình, hai quy trình kỹ thuật được hoàn thiện, gồm quy trình sản xuất cam Nam Đông thời kỳ kinh doanh đạt tiêu chuẩn VietGAP và quy trình trồng, chăm sóc cam Nam Đông thời kỳ kiến thiết cơ bản theo tiêu chuẩn VietGAP.
Người trồng cam tham gia mô hình được hướng dẫn từ chuẩn bị sản xuất, sử dụng và giám sát phân bón đến chăm sóc, thu hoạch theo tiêu chuẩn VietGAP. Việc chuẩn hóa từng khâu giúp người dân có cơ sở kỹ thuật để kiểm soát tốt hơn quá trình canh tác, thay vì chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.
Hiệu quả của cách làm mới đã tạo thêm động lực để người dân mở rộng sản xuất theo hướng an toàn. Tại xã Hương Xuân, huyện Nam Đông trước đây (nay thuộc xã Nam Đông, thành phố Huế), anh Phan Gia Bảo cho biết sau 4 năm trồng thử nghiệm theo hướng VietGAP, vườn cam của gia đình đã cho lứa quả đầu, ước sản lượng 40 tấn; những năm tiếp theo có thể đạt 60–70 tấn. Sau khi trừ chi phí và nhân công chăm sóc, mức lãi ước khoảng 200 triệu đồng/ha.

Cam Nam Đông đã được cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể.
Từ mô hình ban đầu, sản xuất theo VietGAP từng bước được mở rộng. Có thời điểm 4 cơ sở với 24 hộ được chứng nhận VietGAP, tổng diện tích 27 ha, gồm HTX Nông nghiệp Hương Hòa, HTX Nông nghiệp hữu cơ Nam Đông, HTX Nông nghiệp Hương Xuân và Tổ hợp tác phát triển cam Hương Phú.
Theo báo cáo của Sở KH&CN thành phố Huế, dự án góp phần giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển thương hiệu cam Nam Đông, phát triển mô hình liên kết để quảng bá, xây dựng thương hiệu; đồng thời giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Từ tiêu chuẩn chất lượng đến giá trị thị trường
Chuẩn hóa quy trình sản xuất là nền tảng, nhưng giá trị của cam Nam Đông chỉ được nâng lên bền vững khi chất lượng được thị trường nhận diện và người trồng có đầu ra ổn định.
Cùng với nhãn hiệu tập thể và chứng nhận VietGAP, các giải pháp truy xuất nguồn gốc, bao bì, nhãn mác và kết nối thị trường từng bước được triển khai. Cam Nam Đông đã được đưa vào hệ thống siêu thị, sàn thương mại điện tử và quảng bá trên các nền tảng số, mở thêm kênh tiếp cận người tiêu dùng ngoài địa phương.
Ở góc độ chuỗi giá trị, KH&CN vì thế không chỉ hiện diện ở kỹ thuật trồng và chăm sóc. Quy trình VietGAP, tưới tiết kiệm nước giúp kiểm soát sản xuất; nhãn hiệu tập thể và truy xuất nguồn gốc hỗ trợ nhận diện, minh bạch thông tin sản phẩm; các kênh số tạo thêm khả năng quảng bá và kết nối tiêu thụ.
Tuy nhiên, đạt tiêu chuẩn chưa đồng nghĩa sản phẩm tự động có thị trường ổn định. Số liệu năm 2023 cho thấy Nam Đông có hơn 194 ha cam, khoảng 77 ha cho thu hoạch với sản lượng trên 900 tấn; gần 50 ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, sản lượng hơn 150 tấn. Quy mô vùng trồng tăng lên đặt ra yêu cầu ngày càng rõ về liên kết tiêu thụ, bảo quản, sơ chế và xây dựng thị trường cho sản phẩm.
Đây cũng là bước tiếp theo sau khi KH&CN đã giúp nâng chuẩn sản xuất: làm thế nào để chất lượng được nhận diện, tạo giá trị gia tăng và mang lại thu nhập tương xứng cho người trồng. Muốn vậy, cùng với duy trì quy trình kỹ thuật, cần tiếp tục củng cố liên kết giữa người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và hệ thống phân phối; tăng cường truy xuất nguồn gốc, nhận diện thương hiệu và kết nối thị trường.

Từ một cây trồng đặc sản của vùng miền núi, cam Nam Đông đang từng bước được phát triển theo hướng sản xuất có quy trình.
Từ một cây trồng đặc sản của vùng miền núi, cam Nam Đông đang từng bước được phát triển theo hướng sản xuất có quy trình, tiêu chuẩn và nhận diện rõ ràng hơn. Khi tiến bộ kỹ thuật được người dân tiếp nhận và áp dụng trong thực tế, giá trị của KH&CN được thể hiện bằng năng suất, chất lượng, hiệu quả trên mỗi héc-ta và khả năng duy trì sinh kế từ chính sản phẩm đặc trưng của địa phương.