Ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển văn hóa
<p style="text-align: justify;">Trong kỷ nguyên số, khoa học công nghệ đang mở ra phương thức mới để bảo tồn, sáng tạo và lan tỏa các giá trị văn hóa. Từ di tích, bảo tàng, lễ hội đến sân khấu, điện ảnh, âm nhạc và nội dung số, nhiều giá trị văn hóa Việt Nam đang được tiếp cận bằng cách sinh động hơn, gần hơn với công chúng và có thêm khả năng tạo giá trị kinh tế.</p>
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xung lực mới cho phát triển văn hóa. Trọng tâm là chuẩn hóa, số hóa di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị; phát triển hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, nền tảng số dùng chung; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, thực tế ảo trong sản xuất, phân phối, tiêu dùng và quản lý văn hóa.
Công nghệ làm mới cách bảo tồn và lan tỏa di sản
Bảo tồn di sản không còn chỉ dừng ở lưu giữ hiện vật, phục dựng không gian hay tổ chức trưng bày theo phương thức truyền thống. Với sự hỗ trợ của công nghệ, di sản có thể được tái hiện bằng hình ảnh, âm thanh, dữ liệu số, mô hình 3D, bản đồ tương tác, trình chiếu ánh sáng hoặc trải nghiệm thực tế ảo.
Nhiều di tích, bảo tàng hiện nay, cách tiếp cận này đã bước đầu tạo hiệu quả rõ rệt. Di tích Nhà tù Hỏa Lò, Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam… đã ứng dụng công nghệ trong thuyết minh, trưng bày, giới thiệu hiện vật, tái hiện không gian lịch sử và truyền thông tới công chúng.

Ứng dụng công nghệ số giúp bảo tàng đổi mới cách trưng bày, thuyết minh và đưa di sản đến gần hơn với công chúng.
Nhờ đó, người xem không chỉ tiếp cận hiện vật ở trạng thái tĩnh, mà có thể hiểu thêm bối cảnh lịch sử, câu chuyện nhân vật, lớp nghĩa văn hóa và mối liên hệ giữa di sản với đời sống hôm nay. Công nghệ giúp di sản rời khỏi không gian trưng bày khép kín, đến với công chúng qua nền tảng số, video, tour ảo, dữ liệu mở, ứng dụng di động và các sản phẩm truyền thông đa phương tiện.
Số hóa dữ liệu lễ hội Việt Nam cũng góp phần thay đổi cách quản lý và khai thác tài nguyên văn hóa. Khi thông tin về lễ hội được chuẩn hóa, hệ thống hóa, cơ quan quản lý có thêm công cụ theo dõi, nghiên cứu, bảo tồn; người dân, nhà trường, đơn vị du lịch và các chủ thể sáng tạo có thêm nguồn dữ liệu để tìm hiểu, khai thác và phát triển sản phẩm mới.

Công nghệ Leap Motion giúp du khách tương tác trực tiếp với nội dung sách, tạo trải nghiệm mới tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Với thế hệ trẻ, công nghệ là cầu nối quan trọng để văn hóa truyền thống trở nên gần gũi hơn. Những câu chuyện lịch sử, phong tục, lễ hội, mỹ thuật, âm nhạc dân gian nếu được kể bằng ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh, tương tác số hoặc nội dung ngắn sẽ dễ tiếp cận hơn với nhóm công chúng lớn lên cùng điện thoại thông minh, mạng xã hội và nền tảng số.
Tạo sản phẩm văn hóa mới từ công nghệ và dữ liệu
Trong nhiều lĩnh vực văn hóa, công nghệ đang tham gia ngày càng sâu vào toàn bộ quá trình sáng tạo, sản xuất, phân phối và quảng bá sản phẩm.
Lễ hội pháo hoa tại thành phố Đà Nẵng đã thành công thể hiện sự kết hợp giữa trình diễn, công nghệ, truyền thông và du lịch. Từ một hoạt động giải trí, lễ hội đã trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch có khả năng thu hút du khách, tạo thương hiệu sự kiện và đóng góp cho kinh tế địa phương.
Các lễ hội âm nhạc như Hò-Dô, Gió Mùa hay những vở diễn thực cảnh như Tinh hoa Bắc Bộ, Ký ức Hội An cũng khai thác mạnh hiệu ứng âm thanh, ánh sáng, sân khấu ngoài trời, trình chiếu và ngôn ngữ thị giác hiện đại. Khi chất liệu văn hóa được đặt trong một hình thức thể hiện mới, sản phẩm nghệ thuật có thể mở rộng nhóm khán giả, tăng sức hấp dẫn với du khách và nâng cao khả năng thương mại hóa.

Vở diễn thực cảnh Tinh hoa Bắc Bộ ứng dụng âm thanh, ánh sáng và công nghệ trình diễn hiện đại để tái hiện sinh động các giá trị văn hóa truyền thống
Bên cạnh đó, tại các chương trình nghệ thuật lớn như “Tổ quốc trong tim”, “Rạng rỡ Việt Nam”, “Mãi mãi niềm tin theo Đảng”, công nghệ chiếu sáng 3D mapping, âm thanh vòm, thực tế ảo và kỹ thuật sân khấu hiện đại góp phần tạo cảm xúc mạnh cho khán giả. Những giá trị lịch sử, tinh thần yêu nước, bản sắc dân tộc được truyền tải bằng hình thức trực quan hơn, phù hợp hơn với nhu cầu thưởng thức mới.
Trong âm nhạc và nội dung số, nhiều sản phẩm lấy cảm hứng từ văn hóa truyền thống đã vượt ra khỏi phạm vi trong nước, thu hút sự quan tâm của khán giả quốc tế. Chất liệu dân gian, trang phục truyền thống, ngôn ngữ hình ảnh Việt Nam nếu được xử lý sáng tạo có thể trở thành nội dung có khả năng lan tỏa rộng trên môi trường số.

Trình diễn 3D mapping màu chào mừng đại lễ 30.4, kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước
Tuy nhiên, để các ứng dụng này đi vào thực chất, hạ tầng và nhân lực phải được đầu tư đồng bộ. Nhiều địa phương, đơn vị văn hóa vẫn thiếu nền tảng dữ liệu, thiết bị, kinh phí và đội ngũ vận hành. Việc số hóa vì thế dễ dừng ở mức lưu trữ rời rạc, chưa tạo thành hệ thống dữ liệu có thể khai thác cho quản lý, nghiên cứu, giáo dục, du lịch và công nghiệp văn hóa.
Đồng thời, người làm văn hóa trong giai đoạn mới cần hiểu di sản, nghệ thuật, lịch sử, xã hội; đồng thời có tư duy số, kỹ năng sử dụng công cụ công nghệ, năng lực quản trị dữ liệu, truyền thông số và phát triển sản phẩm. Đào tạo nhân lực cần gắn với nhu cầu thực tế của bảo tàng, di tích, doanh nghiệp sáng tạo, đơn vị công nghệ và thị trường văn hóa.
Công nghệ không thay thế con người trong sáng tạo văn hóa. Giá trị cốt lõi của văn hóa vẫn nằm ở bản sắc, chiều sâu tư tưởng, cảm xúc và năng lực sáng tạo. Nhưng nếu được ứng dụng đúng cách, công nghệ có thể làm mới phương thức bảo tồn, mở rộng khả năng tiếp cận công chúng và tạo thêm giá trị cho các sản phẩm văn hóa Việt Nam.