Ứng dụng khoa học nâng giá trị rừng gỗ lớn cho đồng bào Bru-Vân Kiều

<p style="text-align: justify;">Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chuyển hóa rừng keo gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn tại xã Kim Ngân, tỉnh Quảng Trị đang cho thấy hiệu quả rõ nét. Sau 8 năm, mô hình của một hộ đồng bào Bru-Vân Kiều đạt trữ lượng hơn 222 m³/ha, lợi nhuận ước tính gần 180 triệu đồng/ha, mở ra hướng nâng cao giá trị rừng trồng, cải thiện sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.</p>

Năm 2025, tại xã Kim Thủy (nay là xã Kim Ngân), tỉnh Quảng Trị, mô hình chuyển hóa rừng keo gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn của gia đình ông Hồ A Lai, người Bru-Vân Kiều ở bản Cồn Cùng, được tổng kết sau 8 năm trồng và chăm sóc. Trên diện tích 6,65 ha, lô rừng đạt trữ lượng gần 1.500 m³, bình quân hơn 222 m³/ha.

Theo báo cáo của Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt, trữ lượng rừng bình quân hơn 27,7 m³/ha/năm, lợi nhuận ước tính gần 180 triệu đồng/ha cho chu kỳ 8 năm, tương đương gần 22 triệu đồng/ha/năm. Kết quả bước đầu cho thấy tiềm năng nâng cao giá trị rừng trồng thông qua kéo dài chu kỳ kinh doanh và liên kết hỗ trợ kỹ thuật.

Chuyển hóa rừng keo gỗ nhỏ sang gỗ lớn

Gia đình ông Hồ A Lai trồng 6,65 ha keo từ đầu năm 2017. Cuối năm 2020, khi rừng gần 4 năm tuổi và chuẩn bị khai thác theo chu kỳ thông thường, gia đình tham gia mô hình liên kết chuyển hóa rừng keo gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn, kéo dài thời gian kinh doanh lên 8 năm.

Ứng dụng khoa học nâng giá trị rừng gỗ lớn cho đồng bào Bru-Vân Kiều- Ảnh 1.

Kiểm tra chuyển hóa rừng trồng keo gỗ lớn của hộ ông Hồ A Lai.

Hoạt động liên kết được triển khai trong khuôn khổ phát triển lâm nghiệp bền vững, gắn với định hướng quản lý rừng theo tiêu chuẩn của Hội đồng Quản lý rừng (FSC). Thay vì khai thác sớm để cung cấp gỗ nhỏ, chủ rừng kéo dài chu kỳ kinh doanh nhằm tăng đường kính thân và giá trị sử dụng của gỗ.

Về kỹ thuật, chuyển hóa rừng keo gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn đòi hỏi đánh giá điều kiện đất đai, khả năng sinh trưởng và chất lượng cây trước khi quyết định giữ rừng. Các biện pháp như lựa chọn cây giữ lại, tỉa thưa và điều chỉnh mật độ cần được áp dụng phù hợp với từng lâm phần; không phải diện tích rừng keo nào cũng đáp ứng điều kiện chuyển hóa. 

Với lô rừng của gia đình ông Hồ A Lai, hoạt động ứng dụng kỹ thuật được thể hiện rõ ở việc chuyển đổi phương thức kinh doanh rừng, kéo dài thời gian nuôi dưỡng và tổ chức đánh giá trữ lượng khi kết thúc chu kỳ. Hiện chưa có đủ thông tin để xác định cụ thể số lần tỉa thưa hoặc toàn bộ quy trình kỹ thuật đã áp dụng tại lô rừng này.

Kết quả đánh giá tháng 2/2025 cho thấy tổng trữ lượng lô rừng đạt gần 1.500 m³. Đây là dữ liệu phục vụ xác định giá trị lâm phần và đánh giá hiệu quả phương thức kinh doanh rừng gỗ lớn. 

Việc ứng dụng kỹ thuật lâm sinh cũng gắn với định hướng đổi mới công nghệ giống cây lâm nghiệp. Trong phát triển rừng trồng, công nghệ nhân giống bằng nuôi cấy mô, sử dụng giống có chất lượng và khả năng sinh trưởng phù hợp được xác định là một trong những giải pháp nâng năng suất, chất lượng rừng. Tuy nhiên, chưa có căn cứ xác nhận lô rừng của ông Hồ A Lai sử dụng giống keo nuôi cấy mô.

Nâng giá trị rừng, cải thiện sinh kế

Trước khi tham gia mô hình, gia đình ông Hồ A Lai thường khai thác keo sau khoảng 4-5 năm. Mỗi hecta keo chu kỳ ngắn trước đây bán được hơn 60 triệu đồng, chưa trừ các khoản chi phí sản xuất và khai thác.

Với diện tích chuyển hóa sang rừng gỗ lớn, ông Hồ A Lai cho biết thương lái đã đặt cọc mua lô rừng. Sau khi tính toán chi phí, gia đình ước tính lợi nhuận bình quân gần 22 triệu đồng/ha/năm, cao hơn phương thức trồng keo gỗ nhỏ trước đây. Đây là mức lợi nhuận do chủ rừng tính toán trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm tổng kết, không phải số liệu quyết toán sau khi hoàn tất toàn bộ giao dịch.

Theo ông Hồ A Lai, gia đình hiện tiếp tục lựa chọn một số diện tích để chuyển hóa hoặc trồng rừng gỗ lớn ngay từ đầu chu kỳ, đồng thời mong muốn được hỗ trợ nguồn giống chất lượng nhằm nâng hiệu quả sản xuất.

Bà Phạm Thị Mai Hương, Văn phòng Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt cho biết, hoạt động liên kết hướng tới nâng thu nhập cho người trồng rừng và tạo nền tảng xây dựng hệ thống quản lý, bảo vệ rừng bền vững. Mô hình tại Kim Thủy được triển khai gắn với hoạt động hợp tác phát triển kinh tế lâm nghiệp và quản lý rừng theo tiêu chuẩn FSC. Thông qua liên kết, người dân có điều kiện tiếp cận phương thức kinh doanh rừng chu kỳ dài.

Ứng dụng khoa học nâng giá trị rừng gỗ lớn cho đồng bào Bru-Vân Kiều- Ảnh 2.

Rừng keo gỗ lớn 8 năm tuổi sau khi khai thác đã mang lại thu nhập khá cao cho người trồng.

Từ kết quả mô hình, hoạt động kết nối tiếp tục được mở rộng tới hai chủ rừng tại xã Trường Xuân trước đây, với tổng diện tích hơn 11 ha. Tuy nhiên, phát triển rừng gỗ lớn vẫn gặp khó khăn do thời gian thu hồi vốn kéo dài, chi phí chăm sóc và bảo vệ rừng, cùng nguy cơ thiệt hại do gió bão. Đối với hộ trồng rừng miền núi, những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định giữ rừng lâu hơn thay vì khai thác theo chu kỳ ngắn.

Các giải pháp khoa học và công nghệ có thể hỗ trợ tháo gỡ một phần khó khăn thông qua lựa chọn giống phù hợp, hướng dẫn kỹ thuật lâm sinh, đánh giá chất lượng rừng và cung cấp dữ liệu phục vụ quyết định sản xuất. Cùng với đó, liên kết giữa chủ rừng, đơn vị chuyên môn và cơ sở chế biến giúp người dân có thêm điều kiện tiếp cận thị trường gỗ nguyên liệu chất lượng cao.

Định hướng phát triển lâm nghiệp của Quảng Trị cũng xác định chuyển giao công nghệ nhân giống keo lai, phát triển rừng gỗ lớn và quản lý rừng bền vững là những giải pháp quan trọng để nâng chất lượng vùng nguyên liệu.

Mô hình của gia đình ông Hồ A Lai cho thấy việc ứng dụng khoa học công nghệ trong chuyển hóa rừng keo đã có kết quả đo đếm cụ thể về trữ lượng, giá trị kinh tế ước tính. Để nhân rộng tại vùng đồng bào Bru-Vân Kiều, yêu cầu đặt ra là tiếp tục chuyển giao ứng dụng kỹ thuật phù hợp với từng lâm phần, hỗ trợ giống chất lượng, nguồn vốn và liên kết tiêu thụ, qua đó nâng hiệu quả sử dụng đất rừng và tạo sinh kế bền vững cho người dân.