Vai trò của CNTT với y tế
Công nghệ thông tin (CNTT) đang dần chứng tỏ tầm ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội. Đối với hoạt động của ngành y tế, có thể thấy rằng, CNTT ngày càng đóng vai trò quan trọng.

CNTT ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với ngành Y tế.
Không chỉ “bà đỡ” cho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, điều hành của cơ quan quản lý, CNTT còn “đỡ đầu” cho việc triển khai và ứng dụng thành công các kỹ thuật cao trong công tác khám chữa bệnh.
Lợi thì rất lợi…
Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 - TP HCM, thời gian chờ khám khi chưa ứng dụng CNTT trung bình là 30 phút, đến nay đã giảm hơn nửa; thời gian chờ mua thuốc trước là 45 phút nay còn khoảng 10 phút; thời gian làm thủ tục xuất viện trước từ 2- 4 giờ, nay chỉ còn… 15 phút. Việc kê đơn thuốc trước đây nhiều người kêu ca về chữ bác sĩ xấu, khó đọc nay nhờ áp dụng mô hình quản lý bằng CNTT mà đơn thuốc được in trên giấy vi tính dễ đọc, lãnh đạo bệnh viện lại dễ dàng quản lý việc kê đơn thuốc nhằm giảm tình trạng các đơn thuốc chưa hợp lý đến tay người bệnh.
Với Bệnh viên Gang thép Thái Nguyên, việc làm chủ CNTT và ứng dụng thành công CNTT trong quản lý bệnh viện đã đem lại những hiệu quả rất thiết thực. Theo đó, 100% bệnh nhân đã được quản lý trên mạng của bệnh viện với mã số riêng giúp cho việc tra cứu các kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh từ những lần khám trước rất nhanh chóng trong thời gian khoảng 1 phút thay cho việc phải chờ đợi các thủ tục hành chính để rút các hồ sơ bệnh án như trước (kéo dài gần 1 ngày); Các khoa dự trù và cấp phát thuốc qua mạng do đó người bệnh được công khai thuốc hàng ngày qua các phiếu in trên mạng có đầy đủ thông tin về tên thuốc, làm lượng, số lượng, nước sản xuất… đến giá tiền...
Tại Việt Nam, phần mềm ứng dụng trong ngành y tế không thiếu, chỉ có điều, nói như Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long, chưa đồng bộ và cũng chẳng có cơ quan nào phân tích những điểm mạnh, yếu của những phần mềm này. Ông Phạm Hồng Phong – Tổng giám đốc HP Việt Nam cho rằng, các tổ chức Y tế cần có một cơ sở hạ tầng có thể đảm bảo được độ linh hoạt và nâng cao năng suất làm việc nhưng không làm giảm hiệu năng, không làm tăng chi phí hoặc làm giảm mức độ an ninh. Họ không thể dựa vào các mạng cũ hoặc khuynh hướng hiện nay về cung cấp dịch vụ để đáp ứng những yêu cầu đó. Bộ phận CNTT của các cơ sở Y tế có mong muốn hợp nhất trong khi vẫn khai thác được ưu thế của những công nghệ hiện tại như là ảo hóa máy chủ cũng như là điện toán đám mây cần phải xem xét lại cách thức phát triển mạng của họ.
Nhưng… áp lực không hề nhỏ
Với vai trò là một trong những nhà cung ứng giải pháp CNTT cho ngành y tế, ông Phong cũng khẳng định: Công nghệ y tế đang trải qua nhiều thay đổi lớn, được định hướng bởi một số xu thế, bao gồm cả việc chuyển đổi sang các môi trường EHR (Electronic Health Records), trao đổi thông tin y tế (Health Information Exchanges - HIE), điện toán đám mây và tuân thủ các quy định trong ngành. Khi những công nghệ đang phát triển này đang đặt ra những áp lực ngày một lớn đối với các trung tâm dữ liệu của ngành y tế, các bộ phận CNTT trong ngành đang tìm cách để hội tụ cơ sở hạ tầng và tập trung hóa hoạt động quản lý tài nguyên CNTT nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và hạ thấp chi phí. Theo các báo cáo trong ngành CNTT, 67% các nhà cung cấp dịch vụ y tế có kế hoạch đầu tư vào các giải pháp hồ sơ bệnh án điện tử, y tế di động, nâng cấp cơ sở hạ tầng và hình ảnh kỹ thuật số. Tất cả các công nghệ này hứa hẹn mang đến một chất lượng chăm sóc sức khỏe cao hơn, giảm bớt sai sót và cắt giảm chi phí. Hơn nữa, với xu hướng BYOD (sử dụng các thiết bị cá nhân), trong môi trường y tế hiện nay, ngày càng có nhiều người kết nối thiết bị của họ vào cơ sở hạ tầng bệnh viện. Rất nhiều thầy thuốc làm việc tại nhiều bệnh viện muốn có sự thuận tiện của việc sử dụng thiết bị cá nhân của họ để truy cập vào các ứng dụng bệnh viện. Bệnh nhân cũng muốn sử dụng thiết bị của chính họ, cho dù là họ đang chờ đến lịch hẹn khám hoặc trong quá trình lưu trú điều trị tại bệnh viện. Điều đó tạo ra một thách thức đặc biệt đối với các nhà quản trị CNTT trong môi trường bệnh viện.
Ông Phong khẳng định, HP Việt Nam rất muốn đồng hành với các cơ sở y tế để giải quyết những thực trang hiện hữu. Bởi kiến trúc HP FlexNetwork cho phép các nhà cung cấp dịch vụ y tế tương quan giữa mạng của họ với nhu cầu kinh doanh bằng cách phân vùng mạng trở thành bốn khối cấu thành có kiến trúc mô-đun và có liên quan chặt chẽ với nhau là: HPFlexManagement, HP FlexFabric, HP FlexCampus và HP FlexBranch.
Đặc biệt, các tổ chức y tế có thể triển khai các ứng dụng và dịch vụ mạng mới mà không làm suy giảm hiệu năng, khả năng tuân thủ quy định và an ninh mạng. Trung tâm dữ liệu thế hệ mới cho phép các tổ chức y tế tự động hóa, ảo hóa và đồng bộ hóa các hoạt động quản trị và y tế. FlexFabric cho phép các tổ chức y tế hội tụ và bảo mật mạng trung tâm dữ liệu của họ với các tài nguyên tính toán và lưu trữ; nó còn cho phép hội tụ cơ sở hạ tầng bằng các kho tài nguyên được chia sẻ của các thiết bị có khả năng tương thích hoạt động.
Các giải pháp không dây của HP giúp đảm bảo an toàn, tốc độ và độ tin cậy cho hoạt động truyền thông trong ngành y tế. Những thiết kế tiên tiến cung cấp khả năng mở rộng, độ ổn định và mức độ dự phòng cao nhất, cho dù là được triển khai trong các mạng bệnh xá, bệnh viện.
Phải khẳng định rằng, CNTT đã có những đóng góp thiết thực đối với sự phát triển trên nhiều mặt hoạt động của ngành y tế trong thời gian qua, vì vậy, tại hội nghị về ứng dụng CNTT trong ngành y tế, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh: “Với nhận thức sâu sắc vai trò của CNTT đối với công tác y tế hiện đại, ngành y tế cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng công cụ này vừa để tạo ra những biến chuyển mang tính bước ngoặt trong chuyên môn, vừa góp phần giảm nhẹ các thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng công tác quản lý điều hành và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí…”.