Việt Nam - EU tìm hướng đưa nghiên cứu vật liệu tiên tiến vào sản xuất
<p style="text-align: justify;">Rút ngắn hành trình từ phòng thí nghiệm đến thị trường là vấn đề xuyên suốt Diễn đàn Hợp tác về khoa học và công nghệ giữa Việt Nam - EU về vật liệu tiên tiến. Các trao đổi làm rõ những điểm nghẽn trong thương mại hóa và hướng kết nối nguồn lực để phát triển công nghệ, sản phẩm phục vụ công nghiệp.</p>
Ngày 29/10/2026, tại Quảng Ninh, trong khuôn khổ Tuần lễ Số quốc tế Việt Nam 2026, Diễn đàn Hợp tác về khoa học và công nghệ giữa Việt Nam - EU về vật liệu tiên tiến đã thu hút sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, nhà khoa học và doanh nghiệp hai bên. Trọng tâm thảo luận tại Diễn đàn là kết nối năng lực nghiên cứu với nhu cầu sản xuất, khai thác thế mạnh bổ sung giữa Việt Nam và EU trong lĩnh vực vật liệu tiên tiến.
Vật liệu tiên tiến là nền tảng của nhiều công nghệ, từ bán dẫn, pin, năng lượng hydro đến cảm biến, thiết bị điện tử và sản xuất thông minh. Năng lực nghiên cứu, phát triển và ứng dụng vật liệu vì thế gắn trực tiếp với khả năng nâng cao giá trị sản phẩm và vị thế trong chuỗi cung ứng công nghiệp.
Rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường
Theo ông Nguyễn Đắc Bình Minh, Phó Viện trưởng Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia, để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam cần chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng. Yêu cầu này đặt ra nhiệm vụ kết nối nghiên cứu với nhu cầu doanh nghiệp, tạo điều kiện để kết quả khoa học được thử nghiệm, hoàn thiện, mở rộng quy mô và thương mại hóa.

Ông Nguyễn Đắc Bình Minh, Phó Viện trưởng Viện đổi mới sáng tạo Quốc gia phát biểu tại diễn đàn.
Tuy vậy, một kết quả nghiên cứu tốt chưa đủ để hình thành sản phẩm có khả năng cạnh tranh. Quá trình đưa công nghệ vào sản xuất còn phụ thuộc vào vốn đầu tư, hạ tầng thử nghiệm, tiêu chuẩn, dữ liệu, nhân lực và sự phối hợp giữa viện, trường với doanh nghiệp.
GS.TS. Nguyễn Thanh Tùng, Phó Viện trưởng Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, hành trình từ ý tưởng nghiên cứu đến sản phẩm trong nhiều trường hợp có thể kéo dài khoảng 10 năm, thậm chí lâu hơn.
Để rút ngắn quá trình này, nhóm nghiên cứu của Viện đang phát triển mô hình phòng thí nghiệm tự động hóa, kết hợp robot, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI). Mô hình hướng tới tăng số lượng thí nghiệm, hỗ trợ lựa chọn vật liệu và đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu.

GS. TS. Nguyễn Thanh Tùng, Phó Viện trưởng, Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phát biểu tại diễn đàn.
Đồng quan điểm, TS. Chu Xuân Quang, Viện trưởng Viện Tăng trưởng xanh và Phát triển bền vững, NACENTECH cho rằng, AI có thể hỗ trợ dự đoán tính chất vật liệu ngay từ khâu thiết kế, giảm các thí nghiệm không cần thiết, qua đó tiết kiệm thời gian và chi phí.

TS. Chu Xuân Quang, Viện trưởng Viện Tăng trưởng xanh và Phát triển bền vững, NACENTECH phát biểu tại diễn đàn.
Các nghiên cứu về polymer phân hủy sinh học, tái chế vật liệu và tận dụng tro, xỉ nhiệt điện được giới thiệu tại Diễn đàn cho thấy những hướng ứng dụng gắn với nhu cầu thực tế. Đây là cơ sở để kết nối nhóm nghiên cứu với doanh nghiệp có bài toán về nguyên liệu, xử lý chất thải và phát triển sản phẩm.
Chuyển cơ hội hợp tác thành dự án cụ thể
Theo PGS.TS. Nguyễn Đức Hòa, Phó Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội, Việt Nam và EU có những thế mạnh có thể bổ sung cho nhau. Việt Nam có đội ngũ nghiên cứu trẻ, nhu cầu đổi mới công nghệ lớn và nền sản xuất phát triển nhanh; châu Âu có thế mạnh về nghiên cứu, hạ tầng, công nghệ, tiêu chuẩn và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Từ những lợi thế này, hợp tác có thể mở rộng từ công bố khoa học sang đào tạo nhân lực, sử dụng chung hạ tầng, phát triển công nghệ, thử nghiệm sản phẩm và xây dựng các dự án nghiên cứu chung.

Ông Nguyễn Đức Hòa, Phó hiệu trưởng vật liệu, Đại học Bách khoa Hà Nội; trình bày tham luận “Thúc đẩy hợp tác Việt Nam - EU trong lĩnh vực vật liệu tiên tiến: Từ nghiên cứu đến đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghiệp”.
Bà Leonie Nagarajan, đại diện EURAXESS ASEAN, giới thiệu cơ hội để các tổ chức và nhà khoa học Việt Nam tham gia các chương trình nghiên cứu thuộc Horizon Europe. Vật liệu tiên tiến có phạm vi ứng dụng rộng, cho phép các nhóm nghiên cứu tìm kiếm hợp tác trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, năng lượng, môi trường, y tế, giao thông và bảo tồn di sản.
Cơ hội tiếp cận các chương trình này đồng thời đặt ra yêu cầu đối với phía Việt Nam: chủ động tham gia mạng lưới nghiên cứu quốc tế, tìm đối tác phù hợp và xây dựng đề xuất dự án có mục tiêu, nguồn lực, khả năng ứng dụng rõ ràng.

Bà Leonie Nagarajan, đại diện EURAXESS ASEAN phát biểu tại diễn đàn.
Bà Leonie Nagarajan, đại diện EURAXESS ASEAN, cho biết các tổ chức và nhà khoa học Việt Nam có thể tham gia nhiều chương trình nghiên cứu trong Horizon Europe. Đáng chú ý, vật liệu không chỉ xuất hiện trong nhóm công nghiệp hay công nghệ mà còn có thể tham gia các dự án về năng lượng, môi trường, y tế, giao thông và thậm chí bảo tồn di sản.
Điều này mở ra không gian hợp tác rộng hơn cho các nhóm nghiên cứu Việt Nam, nhưng cũng đặt ra yêu cầu chủ động tìm đối tác, xây dựng đề xuất dự án và tiếp cận các mạng lưới nghiên cứu quốc tế.

Ông Gonzalo Serrano, Phó Trưởng ban các quan hệ đối tác phái đoàn Liên Minh Châu Âu tại Việt Nam phát biểu tại diễn đàn.
Ông Gonzalo Serrano, Phó Trưởng ban Các quan hệ đối tác, Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu chuyển các định hướng và thỏa thuận hợp tác thành hoạt động cụ thể. Sự tham gia đồng thời của cơ quan quản lý, nhà khoa học, trường đại học và doanh nghiệp là điều kiện quan trọng để đưa kết quả nghiên cứu đến thị trường.
Trong quá trình đó, nhà khoa học cung cấp tri thức và giải pháp công nghệ; doanh nghiệp xác định nhu cầu ứng dụng, cơ hội đầu tư; nguồn tài chính hỗ trợ phát triển sản phẩm; chính sách tạo điều kiện cho thử nghiệm và triển khai.

Các đại biểu chụp hình lưu niệm.
Qua các trao đổi, Diễn đàn đã làm rõ ba hướng hợp tác: hình thành nhóm nghiên cứu và dự án chung; kết nối viện, trường với doanh nghiệp để phát triển, thử nghiệm công nghệ; khai thác các chương trình và mạng lưới nghiên cứu của châu Âu.
Vấn đề đặt ra sau Diễn đàn là cụ thể hóa những hướng này bằng đối tác, bài toán nghiên cứu và nguồn lực thực hiện.
Với ngành khoa học và công nghệ, nhiệm vụ kết nối cần bắt đầu từ nhu cầu của sản xuất, đồng thời hỗ trợ các nhóm nghiên cứu vượt qua khâu thử nghiệm, hoàn thiện và mở rộng quy mô. Hiệu quả hợp tác sẽ được thể hiện ở công nghệ được chuyển giao, sản phẩm được ứng dụng và năng lực nghiên cứu, sản xuất được nâng lên.