Vĩnh Long: Đưa vốn tới tận cơ sở, tiếp sức phát triển sản xuất

<p style="text-align: justify;">Tín dụng chính sách đang trở thành nguồn lực quan trọng hỗ trợ người dân Vĩnh Long tạo việc làm, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống. Tại cơ sở, hiệu quả của nguồn vốn được thể hiện rõ hơn khi kết hợp với chuyển giao kỹ thuật, tổ chức sản xuất và các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, nhất là ở những địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số.</p>

Tại xã Tân Hòa, mô hình nuôi dê của gia đình ông Nguyễn Văn Quốc, ấp 3, cho thấy cách một khoản vốn phù hợp có thể trở thành điểm khởi đầu để hộ dân tạo dựng sinh kế.

Không đầu tư theo hướng thâm canh với chi phí lớn, gia đình ông Quốc tận dụng đất quanh nhà trồng cỏ voi, đồng thời sử dụng chuối cây, lá so đũa, lá mít và các loại lá cây sẵn có làm thức ăn cho dê, kết hợp với cám, ngô và thức ăn bổ sung.

Năm 2022, gia đình ông vay 40 triệu đồng từ Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Tiểu Cần để mua 5 con dê và đầu tư chuồng trại. Nhận thấy mô hình phù hợp với điều kiện gia đình, ông tiếp tục vay thêm 20 triệu đồng, đồng thời huy động vốn đối ứng để mở rộng đàn. Đến nay, tổng vốn đầu tư cho mô hình gần 100 triệu đồng.

Theo ông Quốc, dê sinh sản khoảng 2 lứa mỗi năm. Sau khoảng 15 tháng, gia đình xuất bán hơn 20 con dê con, thu khoảng 60 triệu đồng, lợi nhuận đạt khoảng 60 - 70%. Đàn hiện được duy trì với 8 con dê nái, một con dê đực và 4 con dê thịt.

Đưa vốn tới tận cơ sở, tiếp sức phát triển sản xuất- Ảnh 1.

Mô hình nuôi dê sinh sản của gia đình ông Nguyễn Văn Quốc, ấp 3, xã Tân Hòa hình thành từ nguồn vốn vay của Ngân hàng hàng chinh sách mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Điểm đáng chú ý là gia đình không phụ thuộc hoàn toàn vào thức ăn mua ngoài. Phần đất quanh nhà được tận dụng trồng cỏ; chuối cây và các loại lá sẵn có được băm nhỏ làm thức ăn, qua đó giảm chi phí chăn nuôi.

"Điều kiện đất đai của gia đình còn hạn chế nên trước mắt tôi phát triển từ từ, lấy đàn dê sinh sản làm nguồn để nhân rộng. Từ hiệu quả bước đầu, tôi dự kiến xây thêm 2 - 3 chuồng để từng bước nâng quy mô", ông Quốc cho biết.

Cũng lựa chọn chăn nuôi để tạo sinh kế, gia đình ông Kim Ngân từng vay 15 triệu đồng mua một con bò sinh sản. Từ nguồn vốn ban đầu, gia đình chăm sóc, gây đàn và từng bước mở rộng quy mô. Đến nay, đàn bò đã phát triển lên 10 con, gia đình ông đã trả dứt nợ ngân hàng.

Theo ông Ngân, nguồn vốn tín dụng chính sách có lãi suất phù hợp với khả năng của hộ nông dân, giúp gia đình có điều kiện đầu tư sản xuất mà không phải chịu áp lực lớn về chi phí vốn. Thông tin về chính sách được cán bộ Hội Nông dân và Tổ tiết kiệm và vay vốn chuyển đến người dân, giúp hộ có nhu cầu chủ động tiếp cận nguồn vốn.

Từ dê, bò đến các mô hình trồng trọt, điều quan trọng không chỉ là người dân có thêm một khoản tiền để đầu tư, mà là khoản vốn được đặt vào một phương án sản xuất phù hợp với đất đai, lao động và khả năng của từng hộ. Khi có thu nhập, hộ vay có điều kiện trả nợ, tích lũy và tiếp tục tái đầu tư.

Ở Tân Hòa, tín dụng chính sách không tách rời các hoạt động hỗ trợ sản xuất của Hội Nông dân và chính quyền cơ sở.

Hội Nông dân xã đang quản lý 24 Tổ tiết kiệm và vay vốn với 1.221 hội viên vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội, tổng dư nợ trên 43 tỷ đồng. Nguồn vốn tập trung vào các chương trình phù hợp nhu cầu, trong đó có vốn giải quyết việc làm phục vụ sản xuất, chăn nuôi.

Từ đầu năm đến nay, Hội Nông dân xã cũng đang duy trì 30 tổ hợp tác với 426 hội viên, xây dựng 4 mô hình kinh tế gồm bưởi da xanh, bòn bon xen dừa, dừa xiêm xanh hữu cơ và nuôi lợn thịt.

Đáng chú ý, việc hỗ trợ người dân được mở rộng sang khâu vật tư đầu vào. Hội phối hợp với hợp tác xã, đại lý và doanh nghiệp hỗ trợ hội viên mua vật tư nông nghiệp trả chậm, không tính lãi. Trong 9 tháng, có 2.372 lượt hội viên được mua gần 80 tấn phân bón theo hình thức này; 2.135 người được hỗ trợ kỹ thuật sản xuất.

Như vậy, cùng một địa bàn, người dân có thể tiếp cận nhiều lớp hỗ trợ khác nhau: tín dụng để có vốn, Hội và ngành chuyên môn hỗ trợ kỹ thuật, tổ hợp tác tạo môi trường liên kết sản xuất. Cách làm này giúp giảm rủi ro khi hộ dân tự đầu tư riêng lẻ, đồng thời nâng khả năng sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay.

Đưa vốn tới tận cơ sở, tiếp sức phát triển sản xuất- Ảnh 2.

Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Tiểu Cần giao dịch với khách hàng.

Việc hỗ trợ sinh kế, phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập cũng là một nội dung quan trọng trong quá trình triển khai các chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Vĩnh Long.

Giai đoạn 2021 - 2025, Vĩnh Long triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Riêng năm 2025, tỉnh thực hiện 9/10 dự án và 10/14 tiểu dự án của chương trình, với tổng kinh phí trên 284 tỷ đồng. Nguồn lực này được tập trung vào những nội dung tác động trực tiếp đến đời sống người dân như đầu tư hạ tầng, hỗ trợ nhà ở, nước sinh hoạt và tăng cường cơ sở vật chất giáo dục.

Kết quả từ chương trình không chỉ nằm ở những công trình được đầu tư mà còn thể hiện qua thay đổi điều kiện sản xuất và sinh hoạt. Tại Vĩnh Long, trong giai đoạn thực hiện chương trình, 216,75 km đường giao thông nông thôn được nhựa hóa, bê tông hóa hoặc cứng hóa; 1.270 hộ được hỗ trợ nhà ở; 418 hộ được giải quyết nước sinh hoạt và 9 trường phổ thông dân tộc nội trú, trường trung học phổ thông dân tộc nội trú được tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học.

Những công trình này tạo điều kiện để người dân đi lại, vận chuyển vật tư, tiêu thụ nông sản thuận lợi hơn; đồng thời cải thiện những điều kiện thiết yếu để ổn định cuộc sống. Đó cũng là nền tảng để các chính sách tín dụng phát huy hiệu quả tốt hơn, bởi đồng vốn sản xuất chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có điều kiện tổ chức sản xuất, tiếp cận thị trường và từng bước nâng cao thu nhập.

Đáng chú ý, Vĩnh Long đã có bước cụ thể hóa việc kết nối nguồn lực tín dụng với các Chương trình mục tiêu quốc gia. Tháng 6/2025, UBND tỉnh ban hành quy định về điều kiện, nội dung và mức cho vay ưu đãi để thực hiện một số hoạt động của các Chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó bao gồm Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Các nội dung được hỗ trợ gồm phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, ổn định sinh kế, phát triển sản phẩm OCOP, duy trì và phát triển làng nghề, phát triển du lịch nông thôn.

Theo quy định của tỉnh, mức cho vay có thể lên tới 2 tỷ đồng/dự án; đối với cá nhân người dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ có mức sống trung bình và người lao động thuộc địa bàn thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia, mức vay tối đa được quy định 100 triệu đồng. Thời hạn cho vay tối đa 120 tháng, thực hiện theo hướng dẫn của Ngân hàng Chính sách xã hội.

Từ đây, câu chuyện tín dụng chính sách tại cơ sở có thêm một chiều sâu khác: vốn không chỉ để giải quyết nhu cầu trước mắt mà còn được đặt trong mục tiêu tạo sinh kế, việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đây chính là hướng hỗ trợ trực tiếp vào năng lực sản xuất của hộ gia đình.

Tại Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Tiểu Cần, phương thức ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội đang tạo mạng lưới đưa vốn đến tận cơ sở.

Đến ngày 31/8/2026, tổng nguồn vốn của đơn vị đạt gần 622 tỷ đồng, tăng 36,7 tỷ đồng so với đầu năm. Trong 8 tháng, doanh số cho vay đạt hơn 146,6 tỷ đồng với gần 3.000 lượt khách hàng vay vốn; doanh số thu nợ đạt 111,3 tỷ đồng. Tổng dư nợ đạt 620 tỷ đồng.

Dư nợ tín dụng chính sách ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội đạt 602,958 tỷ đồng, chiếm 97,29% tổng dư nợ. Trong đó, Hội Nông dân quản lý 79 Tổ tiết kiệm và vay vốn, với 3.334 hộ còn dư nợ, tổng dư nợ 155,4 tỷ đồng, chiếm 25,78% tổng dư nợ ủy thác.

Từ cấp xã đến từng Tổ tiết kiệm và vay vốn, cán bộ Hội và tổ trưởng vừa là cầu nối đưa chính sách đến người dân, vừa tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn.

Đến cuối tháng 8/2026, các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác đã kiểm tra 113 Tổ tiết kiệm và vay vốn với 3.067 hộ vay; đồng thời kiểm tra 100% món vay được giải ngân trong vòng 30 ngày. Đây là một trong những khâu giúp phát hiện sớm những khó khăn của hộ vay, hạn chế việc sử dụng vốn sai mục đích và nâng cao chất lượng tín dụng.

Toàn Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Tiểu Cần hiện có 286 Tổ tiết kiệm và vay vốn; trong đó 187 tổ xếp loại tốt, chiếm 65,39%; 84 tổ xếp loại khá, chiếm 29,37%; 15 tổ xếp loại trung bình, chiếm 5,24% và không có tổ yếu kém.

Theo ông Trần Văn Dũng, Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Tiểu Cần, đơn vị tập trung thực hiện các kế hoạch tín dụng được phê duyệt, đồng thời bám sát nhu cầu thực tế của người dân. Việc phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể và chính quyền địa phương được chú trọng nhằm rà soát nhu cầu, bảo đảm nguồn vốn được đầu tư đúng đối tượng, đúng người thụ hưởng.

Trong năm 2026, bên cạnh các chương trình tín dụng đang triển khai, Phòng Giao dịch tập trung vào một số nguồn vốn như cho vay giải quyết việc làm, nước sạch và vệ sinh môi trường, học sinh, sinh viên; đồng thời triển khai các chương trình mới theo chính sách của Chính phủ, trong đó có cho vay đối với người sau cai nghiện và người chấp hành xong án phạt tù. Việc giải ngân được thực hiện trên cơ sở phối hợp rà soát đối tượng tại địa phương, góp phần hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống và tạo sinh kế.

Từ một khoản vay 40 triệu đồng mua dê giống, khoản vay 15 triệu đồng mua bò sinh sản đến hàng trăm tỷ đồng tín dụng được đưa về cơ sở, điểm chung là nguồn vốn chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đến đúng người và được đặt vào một phương án sản xuất phù hợp.

Thực tế tại Vĩnh Long cho thấy, đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực nông thôn không thể chỉ dừng ở một nguồn lực riêng lẻ. Hạ tầng giao thông, nước sinh hoạt, nhà ở, trường học được đầu tư từ các chương trình mục tiêu quốc gia tạo điều kiện về môi trường sống; tín dụng chính sách tạo thêm nguồn lực để người dân đầu tư sản xuất; còn tổ chức Hội, tổ hợp tác và cán bộ kỹ thuật hỗ trợ người dân biến nguồn lực đó thành sinh kế.

Đây cũng là hướng tiếp cận xuyên suốt của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn I 2021 - 2025: không chỉ hỗ trợ trước mắt mà từng bước tạo điều kiện để người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và tự chủ hơn về sinh kế. Sau giai đoạn I, Vĩnh Long tiếp tục duy trì các chính sách hỗ trợ đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó yêu cầu đặt ra là phát huy hiệu quả các nguồn lực đã đầu tư và tạo thêm động lực phát triển kinh tế tại cơ sở.

Với tín dụng chính sách, hiệu quả ấy được nhìn thấy từ những thay đổi cụ thể trong từng hộ gia đình: một đàn dê được gây dựng, đàn bò được nhân lên, một mô hình sản xuất được mở rộng, một khoản nợ được trả đúng hạn và nguồn vốn tiếp tục quay vòng đến hộ dân khác.

Khi vốn được đưa đến tận cơ sở, gắn với kỹ thuật, tổ chức sản xuất và các nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, mỗi khoản vay không chỉ tạo thêm thu nhập cho một gia đình mà còn góp phần hình thành những sinh kế bền vững hơn ở nông thôn, đóng góp vào mục tiêu giảm nghèo, nâng cao đời sống và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương./.